Archive for September, 2013

Trà và Phật

Dạo này mình mệt quá cơn đau đầu vẫn cứ hành hạ mình , mình cứ như một kẻ mất  linh hồn

Tháng 9 mùa thu buồn bã

Ta thiền với trà thôi

Từ khi phật giáo vào Trung Quốc, kết hợp với triết học Lão Trang, Trà cùng tường bước bén duyên cùng nhà chùa. Từ thức uống ngoài thế tục, Trà trở thành một thức uống mang nhiều sắc màu của nhà chùa. Từ đây Trà vừa là một thức uống vừa là một nghi thức trong phật giáo vừa trở thành một ý vị, một cách giới trong phật giáo.

2. Thưởng trà, quy trình thưởng trà-nghi thức trong thiền phật

Trong phần này chúng tôi sẽ tiếp tục đi vào chủ yếu là điểm qua những bước những quy trình chủ yếu là thưởng trà được xem là một khâu trong quá trình tu luyện tiến đến quá trình giác ngộ. Trong nhà chùa, trong công án thiền thường có cảnh, những chuyện người nhà Phật pha trà. Từ khâu đầu tiên, kiếm nước, kiếm củi, đun nước, pha trà thưởng trà đều thấm đẫm tinh thần thiền Phật. Trong tất cả những công đoạn trên, nếu như những văn nhân pha trà thưởng trà theo sở thú cá nhân thì đương nhiên nó sẽ không toát lên một ý nghĩa giáo lý nào, đơn thuần nó chỉ là sự cẩn trọng, thanh tú mang tính cá nhân. Ngoài thế tục thì càng đơn giản hơn. Nhưng trong Phật giáo, đặc biệt là Thiền quy trình này là quy trình thiền hoá trà đặc biệt đậm nét. Kiếm nước, kiếm củi, đun nước, cháng ấm, pha trà, thưởng trà là một quy trình đánh dấu sự giác ngộ của mỗi phật tử tu thiền. Người phật tử tu thiền đi kiếm củi không đơn thuần là hành động kiếm củi, nó là một khâu tu tập Thiền. Sắc màu thiền phật yêu cầu người phật tử phải chuyên chú, tâm yên, thành tâm trong quá trình kiếm củi. Khi kiếm nước cùng là một quá trình tìm đến với sự thanh lọc tâm hồn, trở về nguồn, và làm thanh sạch tâm hồn. Đun nước pha trà là một khâu đặc biệt quan trọng, lượng củi, lượng lửa sao cho vừa đủ, khống chế lửa cho cháy sao cho nước sôi theo đúng quy trình của nó. Củi cho đủ độ, lửa sôi đến tầm và đúng quy trình thì nước pha trà cũng vừa “đắc đạo”, tức là khi đó người tu thiền đã chuyên chú vào những khâu nhỏ nhất, tâm người tu phật không động, suy tư sang những chuyện khác. Củi đủ độ, nước sôi đủ độ, lửa cháy vừa đủ, mỗi việc, mỗi hành động đạt đến độ chuẩn mực của nó cho thấy người phật tử đang thành tâm và chuyên chú vào việc tu tập Thiền định. Tiếp đến là khâu pha trà. Lượng trà và nước pha trà vô cùng quan trọng. Nó quyết định trà co đến độ “đạt đạo” hay không. Lượng nước và lượng trà vừa đủ sẽ tạo ra một ấm trà ngon. Trạng thái vị trà và vị phật quyện vào làm một, trạng thái đó cũng chính là trạng thái tu thiền đạt đạo. Trang thái này trong văn hoá trà thiền phật là trạng thái “Trà phật nhất vị”, Trà thiền nhất vị.( vị của Trà và vị của phật là một vị) Phật tử pha trà đã đạt đạo. Nếu như đến đây mới chỉ dừng lại ở công phu tu luyện đạt đạo được thể hiện qua quy trình pha trà thì khâu thưởng trà lại là khâu cao hơn trong quá trình tu luyện của Thiền phật. Trạng thái tinh thần Thiền phật và tinh thần trà trở thành “nhất vị”, không tách biệt.

46385_552939271386368_207041905_n

3. Thưởng trà, ý vị thẩm mỹ trong thiền phật.

Cũng không giống như thưởng trà trong đời sống thế tục, cũng có nét gần gũi với thưởng trà của các văn nhân sĩ phu, thưởng trà đạt đỉnh cao nhất trong Phật giáo là đạt đến ý vị thẩm mỹ của trà. Ý vị thẩm mỹ là ý vị của một quy trình đi từ những vị chát đến vị ngọt tự nhiên của lá trà, tức là từ quá trình xuyên qua thẩm thấu cho được trong vị chát có vị ngọt, vị thơm nhẹ nhàng nhưng bền lâu. Khi thưởng trà, vị chát, đắng ban đầu mất đi và đọng lại là mùi thơm của hương trà và vị ngọt nhẹ nhàng của trà. Quy trình nay lại chính trùng khớp với quy trình tu luyện để đạt tới trạng thái đốn ngộ trong Thiền Phật. Phải chăng sự trùng hợp này là nguyên nhân cốt yếu, là duyên lõi của mối thâm duyên này. Khi người ta thẩm xuyên qua được vị chát cũng chính là lúc con người hưởng được vị ngọt, hương thơm của cuộc đời, phật tử ngộ ra cảnh giới hạnh phúc, nhà Lão Trang ngộ ra đại mỹ của vũ trụ. Mặt khác, khi thưởng trà, với những công dụng của trà như giúp thanh tĩnh, an lạc tâm hồn, tạo ra sự sáng khoái minh mẫn, khi đó con người ta trở về với trạng thái an tĩnh, an nhiên, sáng suốt. Tác dụng này của trà cũng là đích lớn nhất của quá trình tu luyện để giác ngộ trong Thiền phật. Cảnh giới thẩm mỹ cao nhất mà trà có thể mang lại cho con người lại chính là cảnh giới tu thiền đốn ngộ khát khao đạt tới. Do vậy, Phật tử dùng trà sẽ giúp cho quá trình tu luyện đạt hiệu quả hơn. Thưởng được chân vị của trà cũng là lúc đốn ngộ, liễu ngộ trong tu thiền. Đây chính là trạng thái Trà Phật nhất vị/trà thiền nhất vị.  Có lẽ chính vì lý do này mà nhiều nghìn năm nay Trà và Phật giáo đã bén duyên và thâm duyên cùng nhau đi qua thời gian, xuyên qua không gian, bện quyện vào nhau vừa thâm tình, ý vị vừa khó nhận biết.

Advertisements

Leave a comment »

Tết Trung thu và những truyền thuyết về ánh trăng Rằm

Theo phong tục tập quán dân gian của người con Việt trong một năm có ba ngày trăng Rằm chính được biết như là: Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Bảy và Rằm tháng Mười. Ba ngày Rằm này được người ta nhắc qua những lời truyền miệng, bằng ca dao, tục ngữ

Uống trà, ngắm trăng, thưởng hoa và ngâm thơ là một thú thanh tao của những ai thích yêu trà, trăng, hoa và thơ. Uống một tách trà, ăn một miếng bánh trung thu dưới ánh trăng Rằm tháng Tám, có lẽ đây là một hình ảnh giúp cho người ta nhớ lại những ký ức tuổi thơ của mình đã có một thời đã từng trông đợi được đón Tết Trung thu.
Có lẽ theo tập quán trồng trọt trong nền văn minh lúa nước lâu đời và tháng Tám cũng là lúc người nông dân thư thản tạm thời được dừng tay chân, nghỉ ngơi sau khi thu hoạch xong các vụ mùa hoa, quả khác nhau, cho nên Tết Trung thu thường được người ta xem như ngày lễ hội ở giữa thu hay là trăng ngày mùa.
Trăng thiên nhiên khi tròn khi khuyết và khoảng thời gian khác nhau này của trăng luôn tạo thành những điều kỳ diệu, không chỉ đem lại những cảm giác thoải mái, êm dịu, tươi đẹp sôi nổi, mà còn là sự hoà quyện, thắt chặt mối quan hệ giữa con người với con người. Trăng Rằm cũng là cái nôi chứa nhiều nghi thức của phong tục tập quán và những truyền thuyết khác nhau, thí dụ như:
Theo phong tục tập quán dân gian của người con Việt trong một năm có ba ngày trăng Rằm chính được biết như là: Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Bảy và Rằm tháng Mười. Ba ngày Rằm này được người ta nhắc qua những lời truyền miệng, bằng ca dao, tục ngữ như sau:
Rằm tháng Giêng, ai có tiền thì quảy,
Rằm tháng Bảy, người quảy kẻ không,
Rằm tháng Mười, mười người mười quảy.
Ngoài ra ba ngày Rằm trên được người ta gọi là: Rằm Thượng nguyên, Rằm Trung nguyên và Rằm Hạ nguyên.
 Trăng lên
Rằm tháng Giêng còn được gọi là Tết Nguyên tiêu, Lễ hội đèn hoa hay Hội hoa đăng. Nó được xem là một trong những lễ hôị đầu xuân mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của người con Việt. Ngày lễ này người ta thường hay mua đồ cúng Phật, cúng thần linh và cúng gia tiên.
Rằm Trung nguyên còn được gọi Tết Trung nguyên. Theo tín ngưỡng truyền thống của người con Việt Nam cho rằng:  Rằm tháng Bảy là ngày lễ  Xá tội vong nhân nơi Âm phủ lên Dương gian. Do đó người ta làm cỗ bàn, vàng mã cúng gia tiên, cầu siêu cho họ và cúng cho những vong linh không nơi nương tựa. Ngoài ra Rằm tháng Bảy cũng là ngày con cháu báo hiếu ông bà, cha mẹ và tưởng nhớ đến tổ tiên của mình.
Rằm Hạ nguyên còn được biết qua tên Tết Hạ nguyên. Theo quan niệm của ông bà chúng ta ngày xưa nghĩ rằng: Trên Thiên Đình cử thần Tam Thanh xuống trần gian để xem xét việc tốt xấu về tâu với Ngọc Hoàng. Do đó, mọi gia đình phải lo làm lễ để thần Tam Thanh ban phúc lành. Ngoài ra Tết Hạ nguyên cũng là dịp người ta dùng những  sản phẩm vừa mới gặt hái xong để cúng tổ tiên.
Trong Phật học đêm trăng tròn ngày Rằm tháng Tư theo phật lịch là đêm đón chào vị Phật lịch sử Thích ca Mâu ni Đản sinh tại vườn Lâm Tì Ni.
Giọt nước mắt nhớ Ngưu Lang của Chức Nữ là hình ảnh của những giọt nước mắt hạnh phúc, ngậm ngùi, tĩnh lặng, khóc cho sự lìa đôi, mà truyền thuyết dân gian cho rằng: ngày 7 tháng Bảy mỗi năm, Ngưu Lang và Chức Nữ chỉ được gặp nhau một lần trên cây cầu Ô Thước bắc qua sông Ngân Hà. Cũng nhờ tích này mà người nhớ đến ngày Rằm tháng Bảy, ngày tổ chức ngày lễ Vu Lan, con cháu về báo hiếu ông bà, cha mẹ và tưởng nhớ đến tổ tiên của mình.
Ngoài tiếng mưa ngâu rả rích giữa trời tháng Bảy thì bên cạnh đó trời đất thiên nhiên cũng dành lại cho con người chiêm bái và ngưỡng mộ một nét đẹp bình dị, tự nhiên, luôn tạo thành những điều kỳ diệu, không chỉ đem lại những cảm giác thoải mái, êm dịu, tươi đẹp sôi nổi, mà còn là sự hoà quyện, thắt chặt mối quan hệ giữa con người với con người. Đó không gì khác hơn là Ánh Trăng.
Ánh sáng trăng khi mờ khi tỏ và trăng có lúc tròn lúc không tròn. Dựa vào chu kỳ thay đổi tự nhiên này mà của ông bà tổ tiên chúng ta đã tính lịch sinh hoạt trong năm và tổ chức lễ hội khác nhau theo tiết trời thí dụ như: ngày Tết Nguyên đán, ngày Tết Trung thu…
Tết Trung thu là ngày lễ giữa mùa thu tức là vào ngày 15 tháng Tám Âm lịch. Trăng to dáng tròn xinh xinh, có lẽ sáng trong như gương và đẹp nhất. Trăng lên cao tỏa sáng khắp khoảng trời xanh thẳm. Trong khung cảnh trăng thanh gió mát, người lớn tắt đèn, ngồi quây quần bên cạnh những tách trà nóng cùng những miếng bánh trung thu thưởng thức ngắm trăng. Trẻ con với những chiếc lồng đèn nho nhỏ, xinh xinh, muôn hình vạn sắc, thắp nến tung tăng  đi tìm chú Cuội  dưới gốc cây đa và chị Hằng Nga ở trên những từng tầng mây cao thăm thẳm.
Tết Trông Trăng hay Tết Trung thu không chỉ là dịp ngày lễ ăn mừng mùa vụ của người xưa hay là ngày tết vui chơi đặc biệt dành cho trẻ em, mà còn là một phong tục mang đầy đủ ý nghĩa qua hình ảnh Thỏ Ngọc, để nhắc người thấy được những giá trị tốt đẹp của tình yêu thương thân hữu, trước tình cảnh thiệt khó khăn đã đói lại rét, một con thỏ vì thương đồng loại của mình đã tự nhảy mình vào đống lửa thui, để cho những con khác có miếng ăn đỡ đói.
Nếu ánh trăng Rằm Trung thu mang cho người một ánh sáng, dịu dàng, lung linh vô tận không phân biệt một ai, thì ý nghĩa cao đẹp của Thỏ Ngọc này cũng là ánh sáng yêu thương vô giá, giúp cho con người biết suy nghiệm lối sống cao đẹp giữa con người và con người trước những biến động vô thường.
Tuổi đời ngày thêm chồng chất, tuổi thơ của ngày lại càng xa dần. Ánh trăng Rằm Trung thu vẫn còn sáng và tròn trên bầu trời như xưa. Dù trải qua nhiều giai đoạn hay những tình cảnh khác nhau trong cuộc sống, nhưng tất cả người con Việt chúng ta đều được sinh ra từ trong cái bọc yêu thương trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Người con Việt luôn khát vọng được sống an lành, bình an, xây dựng một đời sống hướng thiện cho mình cũng như cho người.
Như vậy ánh trăng Tết Trung thu không chỉ là hình ảnh để cho mình nhớ về chú Cuội hay chị Hằng Nga của tuổi thơ đã đi qua, mà qua sức mạnh dịu dàng lung linh vô tận của ánh trăng Tết Trung thu, có thể giúp mình làm một huyền thoại như chú Cuội và chị Hằng, cho những trẻ thơ có cảnh đời khó khăn, không được hưởng một cái Tết Trung thu trong tình thương, vui tươi và ầm áp của gia đình như các bạn cùng lứa tuổi của chúng, qua những câu chân ngôn Việt ngữ như sau:
Chú Cuội ngồi dưới gốc đa
Chờ khi trẻ đến đứng ra cho quà.
Hay
Chị Hằng bước xuống trần gian
Tới thăm những trẻ còn mang thêm quà.

Leave a comment »

Sự Tích Thỏ Ngọc

Sự tích thỏ ngọc1186937_719159558109490_756081538_n

Ngày xưa có lúc mất mùa, người vật đều nhịn đói. Các loài vật khó kiếm thức ăn nên tàn sát lẫn nhau. Loài thỏ yếu đuối, không khí giới tự vệ, không dám thò đầu ra ngoài kiếm ăn. Chúng đành nằm một chỗ kín đáo cùng nhau nhịn đói. Đã đói lại rét, chúng rủ nhau tới một đống lửa do ai đốt sẵn và nằm quanh đống lửa nhìn nhau, mắt con nào cũng ươn ướt hoen lệ. Trước tình trạng não nề ấy, một con thỏ vì thương đồng loại đã nhảy mình vào đống lửa tự thui để những con khác có cái ăn cho đỡ đói. Vừa lúc đó, đức Phật đi qua, Ngài thầm khen nghĩa khí của con thỏ nên nhặt nắm xương tàn của nó, hoá phép cho nó thành hình khác toàn bằng ngọc thơm tho và trong sáng, đưa nó lên cung Quảng Hàn và xin cho nó được lưu lại ở đây.

Mặc dù đức phật không phải là thần thánh nhưng những câu chuyện cổ tích như thế này đã đưa đức phật lên thành một vị thần như trong thần thoại  Hy Lạp

Leave a comment »