Archive for May, 2012

Mùa Xuân chuyển hóa

Bản chất của mùa Xuân là chuyển hóa. Nó có khả năng chuyển hóa đối với những gì đang có mặt để trở thành mùa xuân cho chính nó, mà không phải là mùa khác. Mùa Xuân có bản chất chuyển hóa thời tiết của hai cực đoan đối lập của mùa Đông và mùa Hạ để tạo nên nét riêng.

Nhưng Xuân không hiện hữu đơn thuần, nó hiện hữu với Đông và Hạ, nên Xuân không phải là nó nhưng cũng không phải là khác.

Mùa Xuân đã tiếp nhận cái mưa và cái lạnh buốt cực đoan của mùa Đông để chuyển hóa thành cái mưa nhẹ và cái lạnh thoáng. Xuân đã tiếp nhận cái nắng cục bộ và cái nóng phiến diện của mùa Hạ, để chuyển hóa và biến nó trở thành chất liệu mới mẻ, nồng ấm và mát tươi để hiến tặng cho đời, mà không hề kể lể và đòi hỏi bất cứ một điều kiện nào đối với muôn vật.
Đối với mùa Hạ, Xuân sinh ra trước không phải để làm anh, mà để tạo ra nguồn sinh lực cho Hạ và cùng đồng hành với Hạ, vừa cung cấp sức sống nhưng đồng thời cũng giúp cho Hạ hóa giải những oi bức tự nội, để hạn chế năng lực đốt cháy và tiêu hủy sự sống của chính nó và muôn vật. Đối với mùa Đông, Xuân cũng đồng hành và tiếp diễn theo sau, không phải để làm em, mà để hứng chịu, ôm lấy và chia sẻ những cơn mưa gió, ngang ngược, phũ phàng, lạnh buốt của Đông, khiến cho Đông hoàn toàn không phải là những khối băng giá, lầm lì, vô tình ướp lạnh sự sống. Xuân tiếp diễn sau Đông là để giúp cho muôn vật tái tạo sức sống, sau những tháng ngày bị Đông đối xử tàn nhẫn và lạnh lùng.

Đối với Hạ, Xuân đồng hành, cộng sinh và đồng thời chấp nhận cho Hạ phân hai, để thiêu đốt lên đời mình, trong những cuộc đuổi bắt săn tìm, được mất, hơn thua, thương yêu, giận dữ,… khiến cho những làn da non nẻo của Xuân trở thành những làn da xạm nắng, rắn chắc, cứng cỏi, sần sùi, chạm trán và u đầu.

Đối với Đông, có khi Xuân bị bạc đãi và tấn công tàn nhẫn bởi những cơn mưa gió bão bùng, bởi những cái rét cay độc, bởi những cơn lạnh phũ phàng, nghiệt ngã, nhưng Xuân vẫn chịu đựng, ôm lấy sức sống và tinh hoa của mình trong tận cùng gốc rễ, với những thân thể trơ trụi, đứng sừng sững giữa giá lạnh của trời đông.

Đối với Thu, có gió mát, trăng thanh, có lá ngô đồng rơi đẹp, có măng trúc biếc, có hoa cúc vàng và bướm bay bên giậu, nhưng phía trước, Xuân bị ngăn cách với Thu bởi Hạ và phía sau Xuân lại bị ngăn cách với Thu bởi Đông.

Mặc dù là vậy, nhưng Xuân luôn luôn đồng hành và cộng thông với Hạ, Thu và Đông, không kể lể, không đài các, không vồn vã, không hèn mọn, không kiêu sa, mà chỉ một lòng, một dạ với tất cả những gì mà mình có thể chịu đựng, để tái tạo cái đẹp mà hiến dâng cho toàn thể.
Xuân là vậy, nên muôn vật đều thích và quý Xuân, và hiến tặng cho Xuân những gì tinh hoa của nó, mà không có bất cứ một sự hối tiếc nào, nhưng Xuân chỉ hồn nhiên, bình lặng mỉm cười.
Tiếp xúc với mùa Xuân, ta có cơ hội học hỏi khả năng chịu đựng, tiếp nhận và chuyển hóa một cách linh hoạt, sống động và thẳm sâu của nó, trong mọi hành hoạt thuận nghịch, để cùng với tất cả lớn lên trong lý tưởng trân quý và phụng sự muôn loài.

Ta tiếp xúc với mùa Xuân không phải chỉ tiếp xúc với những thành quả của nó, mà phải biết tiếp xúc với những nhân duyên thuận nghịch tạo nên nó. Ta biết rằng, Xuân đã từng tiếp nhận cuộc sống, từ những hoàn cảnh điêu tàn và từ những tấm lòng và hành xử cực đoan của Đông và Hạ.

Và ta tiếp xúc với một tâm hồn Xuân là ta phải biết tiếp xúc từ những tâm thức điên đảo; từ những cách nhìn hay những ứng xử cục bộ và phiến diện của ta và của mọi người hay của muôn vật, rồi ta phải có khả năng biết chấp nhận sự thật của những cái ấy, để chuyển hóa chúng trở thành những chất liệu an hòa, nhằm tiến tới hiến dâng sự sống bình yên và tươi vui cho tất cả.

Biển cả hạnh phúc có khả năng hàm dung tất cả những ước muốn của con người và muôn vật. Nhưng, làm sao ta và muôn vật có thể về được và hội nhập với biển cả ấy, khi mà trong đời sống của ta và muôn vật có quá nhiều chất liệu cục bộ, phiến diện và cực đoan, và mọi hành xử hàng ngày của ta và muôn vật, đều đang bị trói buộc ngay nơi những chất liệu và những điều kiện nhất định và hạn chế ấy?

Ta có thể ngồi một cách yên lắng để nhìn mọi vật đang trôi chảy trên một dòng sông. Trên dòng sông ấy, một số vật đang bị mắc kẹt ở bên bờ này, có một số vật đang bị mắc kẹt ở bờ bên kia, có một số vật đang bị mắc kẹt ở gầm cầu và một số vật đang bị người ta vớt lên. Mọi vật không thể đi về được với biển cả rộng lớn là do chúng bị mắc kẹt bởi nhiều hình thức và nhiều điều kiện khác nhau, khi chúng đang trôi trên một dòng chảy.

Cũng vậy, ta ngồi thật yên lắng để nhìn một cách sâu sắc, những chủng tử, những ý niệm, những tác nghiệp biểu hiện và ẩn tàng ngày đêm đang vận hành nơi dòng sông tâm thức của ta. Những gì đang trôi chảy trên dòng sông tâm ấy, không đi về được với biển cả hạnh phúc và giác ngộ rộng lớn, là do chúng không bị mắc kẹt bởi những đối tượng bên này thì chúng lại bị mắc kẹt bởi những đối tượng bên kia. Nếu chúng không bị mắc kẹt bởi những đối tượng bên này hay những đối tượng bên kia, thì chúng lại bị mắc kẹt bởi những nhận thức của chính nó. Và nếu chúng không bị mắc kẹt bởi những nhận thức của chính nó, thì chúng lại bị mắc kẹt bởi nhận thức do người khác vớt lên, giáo dục và trao truyền.

Do tâm thức ta bị những mắc kẹt như vậy, nên chính những mắc kẹt ấy tạo ra sóng mòi, làm chao đảo, ngửa nghiêng đời sống của ta, và đã ảnh hưởng đến những người khác, khiến cho ta và những người liên hệ, không đi về và thể nhập nhất như được với đại dương giác ngộ, an bình.

Mùa Xuân của biển tâm rộng lớn là mùa Xuân mà tâm ta có khả năng biết ơn và chấp nhận sự thuận nghịch của cả bốn mùa, và chuyển hóa những nhận thức nhỏ nhoi, thấp kém, cạn cợt và phiến diện trong những thuận nghịch ấy, ngay nơi đời sống của ta, khiến chúng đều trở thành xuân bao la, xuyên suốt mọi thời gian và mọi không gian. Xuân ấy không còn là một mùa mà xuyên suốt mọi mùa; không còn là mùa Xuân của năm tháng, mà là Xuân xuyên suốt mọi thời gian và Xuân ấy, không còn là Xuân hiện hữu ở trong một chất điểm mà là toàn thể.

Tâm ta rộng lớn bao nhiêu, ta lại có khả năng chế tác mùa Xuân cho ta và muôn vật bấy nhiêu; tâm ta có bao nhiêu phương tiện thiện xảo của trí, thì ta có bấy nhiêu khả năng tháo gỡ và chuyển hóa những vướng mắc thấp kém trong cuộc đời của ta và tạo nên Xuân trong đời sống của ta bấy nhiêu.

Dẫu biết rằng, tùy theo tâm thức cao quý hay thấp kém, rộng hay hẹp, phước báo mỏng hay dày mà mỗi người, mỗi loài sẽ cảm thọ mùa Xuân khác nhau. Nhưng với đại nguyện của mùa Xuân chuyển hóa, ta hãy nguyện cùng nhau buông bỏ những niềm vui ích kỷ, những bắt đuổi tầm thường, những hơn thua hư huyễn, những khen chê đưa đãi, phiếm phù để cùng nhau tạo thành nguyện lớn và dìu dắt nhau đi vào biển cả giác ngộ, để cho muôn loài đều hội nhập tâm Xuân an bình.

Comments (1) »

Toán học với Thiền

Sao lúc này ta lại ham thiền quá đi , suốt ngày thiền và cuối cùng thiền cho ta cái cảm giác trống rỗng bất định

Hay nhỉ  tự  dưng sao ta lại nghĩ ra  toán học với thiền rồi tìm ra được bài này  đây ( TG Lê Anh Chí )

 Mục đích của Thiền quán và Toán học

Mục đích của Thiền quán Phật giáo là sự  giải thoát

Mục đích của Toán học là đáp án cho một vấn đề Toán học, cho một  bài toán

 Thiền quán và Toán học : sự tập trung tư tưởng

Trong Thiền quán có định, có sự  chú tâm, có sự  tập trung tư  tưởng. Bởi lẽ dễ hiểu là nếu ta không chú tâm thì làm sao ta có thể quán chiếu được ? nếu ta không chú tâm thì ta sẽ suy nghĩ vẩn vơ và quán chiếu lung tung xèng

 

Do đó, sự  tập trung tư tưởng.là một sự  tương đồng giữa Thiền quán và Toán học.

 Thiền quán và Toán học : quán chiếu một đối tượng

Thiền quán và Toán học đều quán chiếu một đối tượng

Đối tượng Toán học là  một vấn đề Toán học, một  bài toán _và để tìm đáp án.

Đối tượng Thiền quán là hơi thở, thân , tâm, các pháp_và không phải để tìm đáp án (thường hành giả đã biết đáp án (ít nhất về lý thuyết)).

Thiền quán và Toán học: tự kỷ ám thị

1) Thiền quán thường có sự  tự  kỷ ám thị

 

Ví dụ :

a) ‘‘quán tưởng thích tu tập’’ (một trong 7 pháp quán tưởng nói trong Kinh Đại Bát Niết Bàn)

Quán tưởng nhiều rồi hành giả trở thành thích tu tập

b) ‘‘quán rằng ngũ uẩn chẳng phải là ta’’

Khi thành công trong pháp quán này, thì không còn ngã chấp, có thể được giải thoát

 

2) Toán học cũng có sự tự kỷ ám thị

 

Ví dụ :

Trên đại học có một môn Toán gọi là Phân Tích Phức Tạp (Complex Analysis) , môn này có

a) mệnh đề sau :

_Hai đường thẳng song song gặp nhau ở một điểm lý tưởng gọi (đại) là Vô Cực ( Vô Cực chớ chẳng phải là +VôCực hay -VôCực)

b) số ảo i , với đẳng thức:

             i ** 2 = -1

             ( i bình phương = -1 )

             i là số ảo

 

Khách quan mà nói, thì khó mà chấp nhận rằng mệnh đề và đẳng thức trên là chân lý.

Tuy thế, để học , làm toán và nghiên cứu môn Tóan này, ta phải tìm cách tưởng tượng ra tại sao hai điều trên là chân lý ta phải tự kỷ ám thị tâm trí ta với hai ‘chân lý’ trên

 

 Vài thành quả đặc biệt của Thiền quán

Sau đây là vài thành quả đặc biệt của Thiền quán

1) Quán hơi thở rồi đạt định

Gọi là đặc biệt ở đây vì : Thiền quán – – > Thiền định

Thực ra thì điều này rất thông dụng và còn là một phương pháp trong Lục Diệu Pháp Môn (Theo dõi hơi thở  – – > định)

Có hai cách đạt định

a) Theo dõi hơi thở ra vào, ngưng sự theo dõi hơi thở , định ở chóp mũi

Và giữ tâm trong cái định này

b) Quán hơi thở ra vào, bỗng dưng đạt định, ở trong định này và tiếp tục quán hơi thở ra vào

2) Quán rồi ngộ tâm không

Quán hơi thở ra vào , sáu căn, sự đớn đau của thể xác và bỗng dưng ngộ tâm không

Hiện tượng này hiếm xảy ra

3) Pháp Bích Quán của Tổ Đạt Ma

Tổ Đạt Ma: “Tinh thần ngưng trụ trong cái định Bích Quán, thì . . . không thấy có ta, người .” (Sáu cửa Thiếu Thất)

(Bích Quán = Quán vách, Quán vách tường.)

Chính ra đây là một pháp định

Những pháp Thiền quán trên là đặc biệt vì :

_     Thiền quán – – > Thiền định

_     Thiền quán – – > Ngộ ( tâm không )

Toán học cũng có Hiện tượng này : tìm đáp án cho một bài toán , quán chiếu riết rồi chẳng giải được lại vô tình tìm ra đáp án cho một bài toán khác

 Những khác biệt của sự quán chiếu giữa Thiền quán và Toán học :

Có nhiều khác biệt của sự  quán chiếu giữa Thiền quán và Toán học , khác biệt ở mục đích, đối tượng, chủ thể

a) mục đích

Như  đã nói,

Mục đích của Thiền quán Phật giáo là sự  giải thoát

Mục đích của Toán học là đáp án cho một vấn đề Toán học, cho một  bài toán

b) đối tượng,

Đối tượng Toán học là  một vấn đề Toán học, một  bài toán _và để tìm đáp án.

Đối tượng Toán học là  một vấn đề.

Đối tượng Thiền quán là hơi thở, thân , tâm, các pháp_và không phải để tìm đáp án (thường hành giả đã biết đáp án (ít nhất về lý thuyết).

Đối tượng Thiền quán là một thực thể. Thực thể của thân , tâm,vạn vật.

c) chủ thể

Toán học bất cần chủ thể vui buồn tốt đẹp ra sao, miễn là môn Toán được phát triển là được.

Thiền quán chú ý nhiều đến chủ thể, với ý đồ cải cách, cải biến chủ thể _tức tâm của hành giả.

Thiền quán và Toán học : cố định và luân lưu

Toán học: sự  chú tâm ở một vấn đề sống động và chủ thể luân lưu theo lý luận, theo ý tưởng, theo đáp án sơ khởi ( Thường phải qua nhiều đáp án sơ khởi, thì Toán học gia mới tìm ra đáp án)

Còn Thiền quán :

1) Quán để định

Chỗ định của Thiền: cố định

2) Quán để Quán

Chỗ quán của Thiền : luân lưu ( trong một buổi Thiền quán Tứ Niệm xứ, có rất nhiều đối tượng : bụng phồng lên, chân giở lên, đặt xuống vv)

Chủ thể của Thiền quán : chẳng luân lưu. Nếu tâm của hành giả luân lưu, vô định thì đó là hành giả đã tu sai.

Thiền quán luyện vọng-tâm, Toán học thỏa mãn nhu cầu trí óc (và tâm lý)

Toán học gia làm toán vì thích toán, vì thích giải toán.

Đáp án tìm ra thì Toán học gia thấy rất sướng, rất đã

Toán học thỏa mãn nhu cầu trí óc (và tâm lý) _có thể nói là sinh lý, của Toán học gia. Toán học luyện trí , nhưng vọng-tâm chỉ được thỏa mãn thôi, chẳng được cao thăng.

Còn Thiền quán :

1) Quán để định

Thiền định làm cho tâm trở nên an vui, an tĩnh

Ví dụ : an trú vào các tầng thiền như Nhị, Tam, Tứ  thiền

Sau khi đã thuần thục tu nhập các tầng thiền , thì tâm ta trở nên nhu thuận : ta có thể tùy nghi mà ‘bắt’ tâm ta vào một cảnh giới thiền mà ta muốn. Nên, cuối cùng được giải thoát.

2)  Quán để Quán

Cũng như  Thiền định Thiền quán luyện vọng-tâm

Ví dụ :

a) ‘‘quán tưởng thích tu tập’’ (một trong 7 pháp quán tưởng nói trong Kinh Đại Bát Niết Bàn)

Quán tưởng nhiều rồi hành giả trở thành thích tu tập

b) ‘‘quán rằng ngũ uẩn chẳng phải là ta’’

Khi thành công trong pháp quán này, thì không còn ngã chấp, có thể được giải thoát

Thiền quán luyện vọng-tâm , làm vọng tâm được cao thăng, có thể được trở thành tuệ giải thoát, trở thành tâm giải thoát.

Leave a comment »

Tôi đi học ( 7 )

Dạo này mình ham đọc hơn viết mà cũng chẳng kiếm được đề tài gì để viết nữa . Bao nhiêu năm bệnh rũ rượi chưa khi nào khỏi bệnh hoàn toàn , cứ  thử  tưởng tượng nhà thơ Hàn Mặc Tử  bệnh như thế nào thì mình cũng bệnh giống  ông ấy thôi .

Mệt quá ! cái kiếp nhân sinh này mệt quá !  Ta vẫn cứ  chìm đắm trong cái vọng tưởng của Trời Trăng Mây nước . Một ngày ghé qua nhà sách rồi cầm cuốn Truyện Kiều lên đọc chơi thôi không ngờ lướt qua một câu thơ mà nó khiến mình chú ý đến lạ thường  câu thơ  số 1790…gì đó .

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Cái lối diễn tả cảnh và  cách dùng từ  ngữ  của cụ Nguyễn Du đẹp lạ thường . Sen tàn có làm cho ta cảm thấy buồn và sao xuyến không . Sen loài hoa của mùa hạ , cái mùa cho dù không phải đẹp nhất trong năm nhưng nó lại là mùa nồng nhiệt nhất tươi nhất  phơi phới nhất .Mùa hạ  mùa của tuổi trẻ của những khao khát và ước vọng và ít có cảnh sắc hay từ  ngữ  nói cảnh tàn tạ của mùa hè vậy mà cụ ND lại tả cảnh tàn tạ của mùa hạ qua hình ảnh đẹp nhất của nó là hoa sen loài hoa của mùa hạ.

Chung quy lại thì câu thơ trên ý nói thời gian một năm trôi qua qua hình ảnh bốn mùa : Mùa hạ đi mùa thu tới rồi đến mùa đông sắp hết và ta lại bước vào mùa xuân . Bốn mùa vận hành trên cõi thế gian vô thường này cứ  như  vậy mãi , cuộc đời quá ngắn và thời gian thì quá nhanh như  bông hoa  tươi tốt rồi tàn tạ trong chỉ một ngày .

Leave a comment »