Giải mã những bí ẩn của thời gian

Trả lời câu hỏi “Thời gian là gì?”, từ thế kỉ thứ V, Thánh Augustine, nhà thần học lừng danh, đã viết: “Nếu không ai hỏi, thì tôi biết; nếu tôi muốn giải thích cho một người hỏi, thì tôi không biết”. Khi được hỏi Thượng Đế tạo ra vũ trụ và thời gian như thế nào, ông nói, Thượng Đế tạo ra vũ trụ không phải trong thời gian mà cùng với thời gian.

Không có gì ám ảnh con người hơn thời gian, đơn giản vì sự sống và cái chết gắn bó với thời gian. Ước mơ trường sinh, khả năng luân hồi, thiên đường và địa ngục, linh hồn bất tử… được sử dụng như những cách thức để vượt qua nỗi sợ hãi trước thời gian. Và thật lạ lùng, mặc cho những bước tiến khổng lồ của khoa học, nhận thức của chúng ta về thời gian chưa vượt qua Thánh Augustine mười sáu thế kỉ trước.

Đồng hồ đá

THỜI GIAN LÀ GÌ?
Đối với nhà vật lý (thông thường), thời gian là cái mà một đồng hồ chính xác đo được. Với nhà toán học, đó là không gian một chiều, được xem là liên tục, nhưng có thể được chia thành các “thời khắc”, giống như từng tấm ảnh trong một cuộn phim. Với số đông, thời gian là cái luôn trôi từ quá khứ qua hiện tại để tới tương lai. Trong thuyết Tương đối, thời gian là chiều thứ tư của vũ trụ, nhưng điều đó không có nghĩa nó đồng nhất với ba chiều không gian, vì công thức tính khoảng cách không thời gian khác công thức tính khoảng cách không gian. Sự phân biệt không gian và thời gian là bệ đỡ cho quan hệ nhân quả, vốn có vai trò thiết yếu trong vận hành vũ trụ. Tuy nhiên, một số nhà vật lý tin rằng, ở thang bậc Planck (10-33 cm và 10-43 giây), là thang bậc nhỏ nhất còn có ý nghĩa vật lý, có thể không gian và thời gian không còn chia tách với nhau.


Đồng hồ cơ khí đầu tiên

ẢO GIÁC DÒNG THỜI GIAN:
Thật lạ là khái niệm dòng thời gian rất quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày lại gây tranh cãi mãi không thôi giữa các nhà tư tưởng. Khái niệm dòng liên quan với vận động. Không có vấn đề gì khi ta nói tới chuyển động của một đối tượng vật lý, như một mũi tên đang bay về đích chẳng hạn. Ta có thể theo dõi sự thay đổi vị trí không gian của nó trong quá trình vận động qua việc xác định tốc độ và gia tốc bay. Ta thường nói vũ trụ vận động hay biến đổi đối với thời gian. Vậy thời gian biến đổi đối với cái gì? (Vì vận động là tương đối, nên ta phải xác định hệ qui chiếu đối với một vận động bất kì). Trong khi mọi dạng vận động khác đều tạo ra mối liên hệ giữa các quá trình vật lý khác nhau, dòng thời gian lại liên hệ thời gian với chính nó. Khi được hỏi: “Mũi tên bay nhanh như thế nào?”, ta có thể nói, chẳng hạn: “Với tốc độ 200 km/giờ”. Nhưng không ai hỏi: “Thời gian trôi nhanh như thế nào?”; vì câu trả lời: “Với tốc độ một giây trên một giây” hoàn toàn vô nghĩa.
Hãy khảo sát cách lập luận mà các nhà triết học Hy Lạp cổ Parmenides và Zeno, cũng như nhà triết học Anh thế kỉ XIX McTaggart, đã dùng. Giả thuyết Alice hy vọng một Giáng sinh có tuyết, nhưng cô thất vọng vì hôm đó trời mưa; tuy nhiên hôm sau cô vui vì trời đổ tuyết. Ta có thể đặt mối liên hệ giữa dòng thời gian với trạng thái tinh thần của cô gái như sau:
Ngày 23-12: Alice hy vọng ngày Giáng sinh có tuyết.
Ngày 24-12:  Alice thất vọng vì trời mưa.
Ngày 25-12:  Alice vui vì trời đang đổ tuyết.

 
Thời gian- Tranh của Francisco Goya

Trong mô tả trên, không có gì vận động hay biến đổi cả, đó chỉ là trạng thái cụ thể của thế giới tại các ngày khác nhau (mà ta gọi là chuỗi sự kiện A) và trạng thái tinh thần của Alice liên quan với chúng (ta gọi là chuỗi sự kiện B).
Rõ ràng là từng chuỗi sự kiện mô tả chân xác hiện thực, đồng thời chúng lại mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn, sự kiện “Alice thất vọng” ban đầu ở thời tương lai, sau đó ở thời hiện tại, rồi trở thành quá khứ. Nhưng quá khứ, hiện tại và tương lai là các phạm trù loại trừ nhau, vậy tại sao một sự kiện đơn nhất lại có thuộc tính của cả ba? McTaggart dùng nghịch lý đó để xem thời gian không có thật. Tuy nhiên phần lớn giới vật lý đặt vấn đề ít nghiêm trọng hơn: dòng thời gian không có thật, nhưng bản thân thời gian thì có thật, giống như không gian.

MŨI TÊN THỜI GIAN:
Ảo giác dòng thời gian liên quan với khái niệm mũi tên thời gian. Tuy bác bỏ dòng thời gian, nhưng giới vật lý chấp nhận mũi tên thời gian (chỉ hướng từ quá khứ qua hiện tại tới tương lai), cũng như xem việc phân biệt “quá khứ” và “tương lai” là có cơ sở vật lý. Hawking đã luận giải rất sâu sắc vấn đề này trong tác phẩm Lược sử thời gian: Từ vụ nổ lớn tới lỗ đen, xuất bản từ 1988.
Nói chung, các sự biến vũ trụ sắp xếp theo thứ tự một chiều. Như gương rơi xuống sàn sẽ vỡ thành từng mảnh, còn quá trình ngược lại – các mảnh vỡ từ sàn bay lên ghép lại thành gương – chưa từng xẩy ra. Đó là bằng chứng trực tiếp và rõ ràng của nguyên lý hai nhiệt động học, cho rằng độ mất trật tự (entropy) của một hệ cô lập luôn tăng. Gương vỡ mất trật tự hơn, có entropy lớn hơn, nên quá trình “gương vỡ lại lành” không thể xẩy ra. Đối với con người, thời gian tâm lý cũng trôi từ quá khứ tới tương lai như thời gian nhiệt động, vì các quá trình tâm lý có cơ sở vật chất là các quá trình điện hóa trong bộ óc, mà các phản ứng sinh học cũng tuân theo các qui luật nhiệt động học. Nói cách khác, hai mũi tên thời gian nhiệt động và tâm lý trùng nhau. (Hawking còn chứng minh mũi tên vũ trụ giãn nở sau Big Bang cũng chỉ hướng như thế; tuy nhiên ta có thể bỏ qua lập luận này, vì khi vũ trụ co lại (ngược với giãn nở), mũi tên cũng không đổi chiều. Điều đó chứng tỏ việc gắn mũi tên thời gian với sự giãn nở có thể không xác đáng).
Chính vì “gương vỡ không lành” mà có sự bất đối xứng giữa quá khứ và tương lai theo trục thời gian. Mũi tên thời gian hình tượng hóa sự bất đối xứng của thế giới theo thời gian, chứ không phải sự bất đối xứng của dòng thời gian. Mũi tên thời gian chỉ hướng về tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa nó bay về tương lai; giống như kim la bàn luôn chỉ phương bắc, nhưng không chạy về phương bắc. Cả hai mũi tên đều hình tượng hóa sự bất đối xứng, chứ không phải vận động hay sự biến dịch. Như vậy mũi tên thời gian chỉ ra sự bất đối xứng trong thời gian, chứ không phải sự bất đối xứng của dòng thời gian. Và các khái niệm “quá khứ” và “tương lai” trong thời gian cũng giống như khái niệm “phía trên” và “phía dưới” trong không gian. Tương quan giữa chúng tùy thuộc vào hệ qui chiếu, vào bản chất thế giới vật chất xung quanh. Chẳng hạn, với người Việt Nam, cảm nhận “phía trên” có thể ngược 180o với cảm nhận của người Mỹ phía bên kia địa cầu.
Nói cách khác, sự bất đối xứng theo thời gian là một thuộc tính của các trạng thái vũ trụ, chứ không phải là thuộc tính của bản thân thời gian. Và trong vũ trụ, chỉ người quan sát có ý thức mới ghi nhận được “dòng thời gian” (khi ta ngủ, tức ở trạng thái dưới ý thức, ý niệm dòng thời gian hoàn toàn biến mất). Đồng hồ cũng không đo dòng thời gian, mà chỉ đo khoảng cách thời gian giữa các sự kiện. Vì thế có thể dòng thời gian là đặc điểm chủ quan trong tâm trí con người, chứ không phải là thuộc tính khách quan của vũ trụ.

TRIẾT HỌC CỦA THỜI GIAN:
Tuy rất kiêu ngạo, nhưng trước những bí ẩn của thời gian, các nhà vật lý cũng phải cầu cứu giới triết học. Theo Carlo Rovelli, một chuyên gia hàng đầu về hấp dẫn lượng tử, lý thuyết hiện đại nhất về không thời gian, đóng góp của triết học đối với quan niệm mới về không thời gian sẽ rất quan trọng. Có nhiều ví dụ minh họa cho nhận định này, tiêu biểu nhất là bài toán “thời gian đông cứng”.
Bài toán xuất hiện khi giới lý thuyết cố gắng lượng tử hóa thuyết tương đối rộng bằng một qui trình gọi là “lượng tử hóa chính tắc”. Qui trình được áp dụng rất tuyệt cho thuyết điện từ, nhưng với thuyết tương đối, sản phẩm của nó – phương trình Wheeler – DeWitt – không có biến thời gian. Nói một cách nôm na, phương trình chỉ ra rằng, vũ trụ không thay đổi mà đông cứng trong thời gian.
Kết quả sai lầm đó có thể xuất phát từ qui trình kỹ thuật, nhưng có thể bắt nguồn từ căn nguyên sâu xa hơn: tính đồng biến tổng quát, xem các qui luật vật lý như nhau với mọi người quan sát. Vật lý quan niệm nguyên lý đó theo nghĩa hình học (tương đối tổng quát là lý thuyết hình học về không thời gian): hai người quan sát sẽ cảm nhận không thời gian có hai hình dạng khác nhau, tùy thuộc vào hệ qui chiếu riêng của mình. Hai hình dạng là “phiên bản biến dạng” một cách trơn tru của nhau, như tách cà phê là phiên bản biến dạng cái bát ăn cơm chẳng hạn. Tính đồng biến nói rằng, sự khác nhau đó không có ý nghĩa; và hai hình học hoàn toàn tương đương nhau về mặt vật lý.
Khoảng 20 năm trước, các nhà triết học Earman và Norton thuộc đại học Pittsburgh cho rằng tính chất tổng quát nêu trên có hệ luận đáng ngạc nhiên với một câu hỏi truyền thống: Không gian và thời gian tồn tại độc lập đối với vật chất (thuyết tồn tại độc lập) hay chúng chỉ đơn giản là một phương thức nhân tạo để xem các thực thể vật lý liên hệ với nhau như thế nào (thuyết tương quan)? Theo lời Norton, chúng giống như giấy vẽ để các họa sĩ vẽ lên; do đó chúng luôn tồn tại cho dù có họa sĩ hay không? Hay chúng giống như tình bạn; và tình bạn chỉ xuất hiện khi có những người bạn?
Có lẽ đến nay giới vật lý thiên về thuyết quan hệ, điều Thánh Augustine đã nói từ lâu. Tuy nhiên chính quan hệ luận lại dẫn tới bài toán thời gian đông cứng: Hình học không gian có thể biến đổi theo thời gian, nhưng vì các hình học là tương đương về vật lý, nên không gian thực ra không thay đổi hay bị đông cứng (về mặt vật lý). Và nó cũng có thể mâu thuẫn với cơ lượng tử: nếu không – thời gian không có ý nghĩa cố định, tại sao có thể tiến hành quan sát tại một vị trí không – thời gian xác định, như thuyết lượng tử cho thấy (sự suy sụp hàm sóng khi tiến hành quan sát)?
Cần nhấn mạnh rằng, ngay cả các lý thuyết hấp dẫn lượng tử (các lý thuyết không thời gian hiện đại nhất) cũng bất lực trước vấn đề nói trên. Giới lý thuyết dây xem không thời gian tồn tại trước, và họ chỉ viết phương trình cho các dao động của dây trong đó mà thôi. Thuyết hấp dẫn lượng tử vòng thì cho rằng các lượng tử không gian và thời gian ghép nối với nhau tạo thành không – thời gian và vũ trụ; nhưng cũng không cho biết thời gian là gì và các lượng tử của nó từ đâu mà có. Quan niệm của Engels (không – thời gian là hình thức tồn tại của vật chất và vận động) cũng chỉ là một kiểu quan hệ luận mà thôi.
Có thể nói, bài toán bản chất của thời gian chỉ có thể hé mở khi khoa học xây dựng được một lý thuyết hấp dẫn lượng tử hoàn chỉnh. Vấn đề là không ai biết khi nào thì xuất hiện bước đột phá đó.

DU HÀNH XUYÊN THỜI GIAN:
Có thể du hành tới tương lai hay quay về quá khứ hay không? Câu trả lời là các nguyên lý vật lý không cấm, nhưng những rào cản kỹ thuật thì không thể vượt qua trong vũ trụ mà chúng ta đang sống.
Cách duy nhất du hành tới tương lai là dùng hiệu ứng thời gian trôi chậm trên con tàu vũ trụ bay rất nhanh của thuyết tương đối hẹp. Nếu rời Trái đất trên con tàu tăng tốc liên tục với gia tốc trọng trường (để cơ thể chịu một lực gia tốc thuận lợi đúng bằng sức hút Trái đất), thì sau một năm có thể đạt gần tới tốc độ ánh sáng. Tiếp tục gia tốc, ta có thể bay nhanh xấp xỉ ánh sáng. Khi đó chuyến bay tới trung tâm Ngân hà rồi quay về (khoảng cách cỡ 60 ngàn năm ánh sáng) chỉ mất 40 năm, trong khi trên Trái đất, 600 thế kỉ đã trôi qua. Bạn sẽ gặp tương lai nhân loại, với biết bao vật đổi sao dời, nếu loài người vẫn còn tồn tại.
Mặc dù không một qui luật vật lý nào ngăn cản chuyến du hành thú vị đó, nhưng những khó khăn kỹ thuật thì khó lòng vượt qua. Chẳng hạn, năng lượng cần thiết, ngay cả khi biến đổi khối lượng hoàn toàn thành năng lượng theo hệ thức E = mc2, còn lớn hơn cả khối lượng hành tinh!
Khả năng du hành ngược thời gian còn khó khăn hơn nhiều, tuy các qui luật khoa học cũng không hề cấm đoán. Vấn đề là tạo được bộ máy thời gian thích hợp.
Khả năng đầu tiên do Frank Tipler, ĐH Maryland, đưa ra năm 1973, liên quan với một kì dị trần trụi quay rất nhanh (kì dị là điểm có mật độ vô hạn, ví như lỗ đen). Khi đó cấu trúc không thời gian bị trường hấp dẫn quá mạnh làm xoắn, khiến một chiều không gian được thay bằng thời gian. Con tàu vũ trụ bay thận trọng gần đó có thể may mắn gặp một quĩ đạo mà phi hành đoàn tưởng vẫn đang xuyên qua không gian, nhưng lại là xuyên thời gian. Khi rời xa điểm kì dị, con tàu sẽ xuất hiện ở một thời gian khác, như thời người tiền sử đang sống trong hang chẳng hạn.
Khả năng này không khó như ta tưởng: một hình trụ dài 100 km, rộng 10 km, chứa vật chất có mật độ của sao neutron (100 triệu tấn/cm3), quay hai ngàn vòng một giây là đạt yêu cầu. Trong vũ trụ, một số sao xung gần đạt tiêu chuẩn này.
Loại máy thời gian thứ hai liên quan với lỗ sâu (wormhole), tức hệ đường hầm xuyên không – thời gian, giống lỗ sâu đục trên quả táo của bạn. Theo thuyết tương đối rộng, lỗ sâu có thể nối một lỗ đen ở vùng không – thời gian này với một lỗ đen hay lỗ trắng ở vùng không – thời gian khác (ngược với lỗ đen luôn hút vật chất và năng lượng, lỗ trắng là nơi phun năng lượng. Big Bang chính là một lỗ trắng như vậy). Quan niệm về lỗ sâu xuất hiện trong vật lý một cách khá hài hước.
Số là nhà thiên văn Carl Sagan, tác giả của viễn cảnh mùa đông hạt nhân nổi tiếng, viết một cuốn sách viễn tưởng về du hành qua lỗ đen để đi từ trái đất tới sao Vega giả định. Vì muốn các lập luận khoa học chính xác tối đa, Sagan nhờ Kip Thorne, một chuyên gia về trường hấp dẫn của Viện Công nghệ California, tính toán.
Cuối 1985, Thorne nhận thấy rằng, lỗ sâu có thể mở khi chứa loại vật chất kỳ lạ có sức căng rất lớn để chống lại lực hấp dẫn ở lỗ đen. Thích hợp nhất là các dây vũ trụ, loại vật chất giả thuyết dưới dạng các ống năng lượng nhỏ hơn kích thích nguyên tử trải dài trên toàn vũ trụ. Nếu có thật, và luồn được vào lỗ sâu, nó có khả năng giữ cho lỗ sâu luôn luôn mở để đóng vai một đường hầm xuyên qua không – thời gian.
Đó là kết luận rất thú vị về mặt khoa học, nhưng Thorne rất sợ người khác cười nhạo và cho rằng ông bị điên khi nghiên cứu khả năng du hành xuyên thời gian. Có lẽ không biết Tipler chẳng hề hấn gì khi nghiên cứu bộ máy thời gian, nên ông rất lo khi học trò công bố công trình, nghề nghiệp của họ sẽ tiêu tan trước khi bắt đầu. Nghiên cứu cẩn trọng và bí mật với Mike Morris và Ulvi Yurtsever, ông dần tự thuyết phục bản thân rằng, quả thật phương trình Einstein cho phép lỗ sâu nối các điểm thời gian với nhau và do đó có thể đóng vai bộ máy thời gian. Đến 1988, ba người công bố kết quả trên tạp chí nổi danh Physical Review Letters. Vẫn lo sợ phản ứng không thuận lợi, ông yêu cầu lãnh đạo Viện không những giữ im lặng mà còn kiên quyết cấm mọi người bàn luận về công trình!
Kết quả ngược với lo lắng của Thorne. Cả giới chuyên môn và công chúng đều rất hào hứng với khả năng du hành xuyên thời gian, dù chỉ trên lý thuyết. Nghề nghiệp của ông thăng tiến rõ rệt, hai học trò được nhiều nơi mời làm việc. Theo gương ông, nhiều nhà vật lý công bố các kết quả nghiên cứu chuyên sâu với bạn đọc đại chúng, một việc được nhiều phía hoan nghênh. Viện Công nghệ California trở thành thánh địa của khả năng du hành xuyên thời gian.
Ngay lập tức xuất hiện hàng loạt tác phẩm về du hành xuyên không thời gian. Trong khi giới chuyên môn thiên về các khía cạnh khoa học và triết lý, thì giới nghiệp dư hân hoan tuyên bố, đó chính là cách nhân loại du hành hướng tới tương lai hay quay về quá khứ! Nhưng nghịch lý ông nội có thể làm nguội niềm phấn khích đó. Giả sử bạn du hành ngược về quá khứ và lỡ tay làm chết ông nội khi ông còn bé tí, lúc ông chưa sinh cha bạn. Không có cha thì tại sao lại có bạn để mà du hành ngược thời gian? Cũng có ý kiến cho rằng, có thể bạn không gặp ông nội, nhưng đó chỉ là ngụy biện (tại sao lại không?).
Đó là lý do Hawking đưa ra Ước đoán bảo vệ trình tự thời gian, cho rằng các qui luật vật lý cấm một thực thể vĩ mô du hành xuyên thời gian. Muốn du hành như thế, cần nhảy vào lỗ đen, và ngay lập tức bạn bị nghiền nát thành các hạt cơ bản, qua lỗ sâu để phun trào ra ở một lỗ trắng tại vùng không – thời gian khác. Chỉ các hạt cơ bản từng tạo nên cặp chân dài gợi cảm, chứ không phải chính cô người mẫu, mới trải nghiệm chuyến du hành kỳ thú đó.

XÁC ĐỊNH THỜI GIAN:
Loài người đã cố gắng xác định chính xác thời gian trong suốt tiến trình lịch sử của mình. Khoa học công nghệ phát triển giúp việc đo đạc ngày càng chính xác; ngược lại, đo đạc thời gian chính xác cũng thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ trong sự phát triển chung của loài người. Ngày nay hệ thống định vị toàn cầu cho phép toàn nhân loại thống nhất trong hành động về mặt thời gian.
Theo bằng chứng khảo cổ, người Babylone và người Ai Cập bắt đầu đo thời gian ít nhất từ 5000 năm trước. Ho xây dựng lịch dựa trên ba chu trình tự nhiên: ngày mặt trời theo chu trình sáng tối dựa trên sự tự quay của trái đất; tháng mặt trăng dựa theo chuyển động của mặt trăng quanh trái đất; và năm mặt trời, dựa trên chuyển động của trái đất quanh mặt trời. Dương lịch ngày nay (Lịch Gregory) bắt nguồn từ lịch của người Babylone, người Ai Cập, người Do Thái và người La Mã.
Người Ai Cập, Hy Lạp và La Mã chế ra đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước và các loại đồng hồ khác. Đồng hồ cơ vận hành bằng vật nặng xuất hiện lần đầu tại Bedfordshire, nước Anh, năm 1283. Đến ngày Giáng sinh năm 1656, đồng hồ quả lắc đầu tiên xuất hiện do đóng góp trực tiếp của nhà thiên văn học Đan Mạch Brahe và nhà thiên văn và toán học Hà Lan Huyghens, cùng sự góp sức của nhiều nhà khoa học khác, chẳng hạn Galilei.
Ngày nay khoa học dùng các dao động dưới nguyên tử để đếm thời gian. Năm 1967, người ta định nghĩa giây là “khoảng thời gian bằng 9.192.631.770 chu kì bức xạ ứng với sự chuyển dời giữa hai mức siêu tinh tế tại trạng thái cơ bản của nguyên tử cesium 133”. Đồng hồ nguyên tử chính xác nhất hiện nay có độ chính xác 10-17, tức chỉ sai một giây sau khoảng ba tỉ năm. Tuy nhiên chúng có tuổi thọ không cao so với đồng hồ cơ khí. Với công nghệ hiện hành, các kĩ sư có thể chế tạo đồng hồ cơ khí chỉ sai một giây sau một năm mà tuổi thọ đạt tới 12 ngàn năm.
Về nguyên tắc, có thể đạt độ chính xác vô hạn, nhưng hấp dẫn và chuyển động làm thời gian co giãn (thuyết tương đối hẹp), nên đồng hồ nào cũng sẽ có sai số. Các nhà khoa học hy vọng trong tương lai rất gần, có thể đạt độ chính xác 10-22, tức đồng hồ chỉ sai một giây sau ba trăm ngàn tỷ năm! Mức chính xác đó rất cần thiết để tạo các xung laser atto giây (10-18 giây) hay điều khiển các chuyến bay vũ trụ.

THỜI GIAN SINH HỌC, THỜI GIAN TÂM LÝ VÀ THỜI GIAN VĂN HÓA:
Thời gian sinh học quan trọng nhất là nhịp ngày đêm, do nhịp sáng tối và thăng giáng địa từ qui định. Khi ánh sáng tới võng mạc, nó qua nhân trên chéo thị giác rồi tới nhân cận thất để dừng sự chế tiết melatonin của tuyến tùng, một tuyến nội tiết thần kinh giữa vai trò điều nhịp của cơ thể. Khi không có thông tin về chu trình sáng tối, tuyến tùng đo đạc các thăng giáng địa từ, cũng có chu kì 24 giờ, để điều nhịp. Chỉ trong lồng Faraday kín (ngăn được cả tín hiệu sáng tối và tín hiệu địa từ), các nhịp sinh học (nhịp tim, nhịp tiết nội tiết tố, nhịp ngưỡng đau…) mới rối loạn, với chu kì 25, chứ không phải 24 giờ như thường lệ. Hội chứng trễ do các chuyến bay (jet-lag), tức mất sự điều hòa cơ thể sau một chuyến bay xuyên lục địa có thể ngăn ngừa bằng melatonin là vì vậy.
Cơ thể sinh vật cũng nhạy cảm với nhịp mặt trăng (28 ngày), nhịp mùa và nhịp năm. Cơ chế của chúng còn chưa được hiểu rõ. Đó là cách thức để các sinh hệ hành xử đồng điệu với môi trường nhằm tiết kiệm năng lượng và tăng cường khả năng sinh tồn.
Thời gian tâm lý được xác định nhờ các cấu trúc não như hồi hải mã hay thùy thái dương. Tổn thương tại đó dẫn tới các rối loạn trí nhớ như không truy xuất được ký ức quá khứ hay không thể tạo ký ức mới. Tuy nhiên việc giải đoán thời gian còn phụ thuộc vào cảm xúc và các hoạt động tinh thần cao cấp khác. Giai thoại về bếp lò nóng và cô gái đẹp của Einstein là minh họa cho điều này. Và đó cũng là căn nguyên của quan niệm xem dòng thời gian chỉ là ảo giác, tức chỉ là một đặc tính chủ quan của trí óc, chứ không phải là thuộc tính khách quan của vũ trụ.
Cuối cùng, quan niệm thời gian còn phụ thuộc vào các chiều kích văn hóa và xã hội. Trễ vài phút khi trả lời phỏng vấn xin việc có thể gây hệ quả nghiêm trọng, nhưng dự tiệc cưới tại Sài Gòn thì trễ hàng tiếng vẫn không sao.
Thời gian không phải là vàng ngọc mà cũng không hẳn vô giá trị; nó chỉ đơn giản là chính nó với biết bao bí ẩn đang chờ được khám phá.

Advertisements

Leave a comment »

Tình khúc & giai thoại : Cuando calienta el Sol ( Love me with all of your heart )

Có những bản nhạc rất quen thuộc, mà đa số người nghe chẳng nhớ tác giả là ai ? Có thể cũng vì một khi đã đi vào lòng người mến mộ, ăn sâu vào tiềm thức công chúng, bài hát trở nên kinh điển đến nổi, nó không còn được xem như là của riêng ai. Nhạc phẩm Cuando calienta el Sol lãng mạn trong ca từ, giai điệu nhẹ nhàng tình tứ, thuộc vào hàng ca khúc bất tử.

Cuando calienta el sol aquí en la playa,
Siento tu cuerpo vibrar cerca de mi;
Es tu palpitar, es tu cara, es tu pelo,
Son tus besos, me estremezco, oh, oh, oh!
Cuando calienta el sol aquí en la playa,
Siento tu cuerpo vibrar cerca de mi,
Es tu palpitar, tu recuerdo, mi locura,
Mi delirio, me estremezco, oh oh oh!
Cuando calienta el sol.
…aquí en la playa…
…cerca de mi…
Es tu palpitar…(se repite)

Dc48105454282b97658723de614e0f35

Trong tiếng Tây Ban Nha, Cuando calienta el Sol có nghĩa là Khi mặt trời nung nóng, khi ánh nắng chói chan. Rất nhiều người tưởng lầm rằng đây là một ca khúc của Mêhicô, nhưng thật ra tác giả bài hát là người Nicaragua. Nhạc sĩ Gaston Rafael Perez chính là người đặt bút sáng tác ca khúc này vào cuối những năm 1950. Phiên bản đầu tiên do ban nhạc The Rigual Brothers (Los Hermanos Rigual) phát hành vào năm 1962.

Nhưng đó cũng là năm mà tác giả Gaston Rafael Perez đột ngột qua đời vì tai nạn. Người có tài sao lại xấu số. Nhạc sĩ này không được chứng kiến tận mắt sự thành công vượt bực của bài hát mà nhiều người cho là để đời. Ông ra đi quá sớm để tận hưởng tất cả những lợi lộc và vinh quang mà bài hát này đã đem lại cho nhiều người sau đó. Năm 2012 vừa đánh dấu 50 năm ngày giỗ của tác giả người Nicaragua. Một cách tương tự, nhạc phẩm Cuando calienta el Sol chính thức được phát hành cách đây vừa đúng nửa thế kỷ.

Bài hát từng được dịch sang nhiều thứ tiếng ăn khách nhất vẫn là phiên bản tiếng Anh Love me with all your Heart (lời của Michael Vaughn). Trong tiếng Pháp bài mang tựa đề Quand le soleil était là, do tác giả Fernand Bonifay đặt lời. Phiên bản tiếng Pháp nổi tiếng nhất là của ca sĩ John William. Còn trong tiếng Việt, bài hát này được tác giả Tuấn Dũng chuyển thành Yêu em bằng nguyên trái tim, dựa vào lời tiếng Anh hơn là nguyên tác tiếng Tây Ban Nha.

Do nhóm đầu tiên là một ban nhạc Mêhicô, nên trong nhiều năm liền người dân nước này cho là đây là một ca khúc của Mêhicô. Cho dù sau đó được đính chính, làm rõ nguồn gốc và tên của tác giả, nhưng Cuando calienta el Sol vẫn được các ca sĩ trẻ như Luis Miguel hay Pablo Montero đưa vào các tour biểu diễn, xếp nó vào hàng bolero kinh điển, không thể nào quên được, mà họ thường gọi là ‘‘boleros inolvidables’’.

Về giai thoại bài hát, tác giả Gaston Rafael Perez viết bài này vào cuối những năm 1950, tựa đề ban đầu của nhạc phẩm là Cuando calienta el Sol en Masachapa, có nghĩa là Khi nắng chói chan trên bờ biển Masachapa; Đây là một địa danh nổi tiếng của Nicaragua, nằm cách thành phố Vera Cruz và thủ đô Managua vài chục cây số về phía Bắc. Nhân một chuyến đi diễn ở địa phương này, tác giả Gaston Rafael Perez do thấy phong cảnh quá đẹp nên mới ngẫu hứng sáng tác thành bài hát nói trên. Một khi ăn khách trên khắp thế giới, và do sửa đổi của nhóm Hermanos Rigual, mà tựa đề bài hát đã được rút ngắn lại.

Trong nguyên tác tiếng Tây Ban Nha, nhiều ca sĩ thường hay lược bỏ đi đoạn đầu, khiến cho bài hát phần nào phản ý tác giả. Bởi vì ở trong đoạn đầu, tác giả mở ra khung cảnh của một người đàn ông cô đơn lang thang trên bờ biển. Khung cảnh miền nắng ấm, biển xanh cát ngà vô cùng nên thơ quá đỗi hữu tình, nhưng nhân vật trong bài hát vẫn có tâm trạng u sầu vì không có người yêu ở bên cạnh.

Khi mặt trời nung nóng, khi ánh nắng chói chan làm cho người đàn ông nhớ lại làn da, hơi thở, vòng tay nồng ấm của tình nhân. Lược bỏ mất vài câu khiến cho ta vẫn hiểu là người đàn ông thèm khát nụ hôn của người yêu, nhưng tình nhân ấy vẫn có thể ở bên cạnh, trong khi chỉ có đoạn đầu là nói rõ đến sự chia lìa ngăn cách. Nỗi nhung nhớ âm thầm vì thế mà càng dữ dội hơn, như thể tâm hồn nóng bỏng càng bị ánh nắng chói chan của mặt trời thiêu rụi nung cháy.

82f617412e77296dcb6a22be514c91eb

QUANDO CALIENTE ALSOL  được ca sĩ Engelbert Humperdinck hát bằng tiếng Anh với tựa đề Love Me With All Of Your Heart

Love me with all of your heart
That’s all I want, love
Love me with all of your heart
Or not at all

*Just promise me this
That you’ll give me all your kisses
Every winter every summer
Every fall

When we are far apart
Or when you’re near me
Love me with all of your heart
As I love you

Don’t give me your love
For a moment or an hour
Love me always as you love me
From the start
With every beat of your heart

Yêu anh bằng cả trái tim em
Đó là tất cả những gì anh cần, em yêu ơi
Yêu anh bằng cả trái tim em
Hoặc là đừng yêu gì cả

Xin hãy hứa với anh điều này
Rằng em sẽ trao anh tất cả nụ hôn của em
Mọi mùa đông, mọi mùa hè
Mọi mùa thu

Khi chúng ta xa lìa nhau
Hay khi em kề bên anh
Yêu anh bằng cả trái tim em
Như  anh cũng yêu em thế

Đừng  cho anh tình yêu em chỉ
Trong một khắc hay một giờ
Luôn yêu anh như  anh yêu em
Ngay từ  giây phút đầu tiên
Với mọi nhịp đập của con tim em .

Leave a comment »

Quizás, Quizás, Quizás lan tỏa hương hoa vô hình khắc họa

Âm nhạc tựa như hương hoa, ẩn chứa những cảm xúc vô hình, tiềm tàng kỷ niệm mông lung khó tả. Mùi hương say đắm như ánh mắt, quyến luyến những vòng tay để rồi lan tỏa những câu chuyện tình lãng mạn.

Dù nẩy sinh trong khoảnh khắc tâm can nhưng mùi hương vẫn chắp cánh vượt thời gian, không sợ tuổi già năm tháng, mà lại suốt đời miên man.

Nổi tiếng thế giới từ 65 năm qua, được dịch ra hàng chục thứ tiếng, Quizás, Quizás, Quizás đã trở thành một ca khúc có tính toàn cầu, biểu tượng vĩnh cửu của nền âm nhạc Latin nồng nàn, quyến rũ.

MUheqwkOUE7QDrIL4zvWktz57M0L93geqsnAv0GTrGiI6CM3qQxYUprF25OBcrlLPNOOp9isWQ1FD1NHzmV_3zspkCLt6u6RxDOkusD_4WzU0cHtwacCQb63vhjg8B3g66xXVfCoRfIFKTIKkUnYdt310TY=w313-h470-nc

Sẽ có rất ít người hình dung được ca khúc mang đậm phong vị Mexico này lại đến từ xứ đảo gần bên – Cuba, đất nước của xì-gà, của những vũ điệu mambo nóng bỏng. Không chỉ vậy, ông Osvaldo Farrés (1902 – 1985) cha đẻ của Quizás, Quizás, Quizás cũng là một người ưa thích phong cách bolero du dương ngọt ngào, lãng mạn bồng bềnh.

Có nhiều nguồn ghi chép sai một chi tiết quan trọng khi cho rằng bài Quizás Quizás là một bản mambo nổi tiếng. Thật ra, theo ông Radamés Giró, người đã soạn quyển Tự điển Bách khoa về Âm nhạc Cuba (Diccionario Enciclopédico de la Música en Cuba), nguyên tác của bài Quizás Quizás được viết theo thể điệu bolero.

Năm 1947, Quizás, Quizás, Quizás ra đời, ngay lập tức trở thành một bài “hit” quan trọng và được ưa thích nhất không chỉ trong cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha mà sau đó còn làm rung động cả nước Mỹ – thị trường âm nhạc lớn nhất thế giới. Trong ca khúc này, Osvaldo Farrés đã diễn tả được tâm hồn Latin theo nhãn quan của riêng mình: tình yêu tựa như hương hoa, ẩn chứa những cảm xúc vô hình, tiềm tàng kỷ niệm mông lung khó tả. Người ta đến với tình yêu qua môi mắt đắm say, quyến luyến những vòng tay để rồi nở bừng sự thăng hoa. Dù nẩy sinh trong khoảnh khắc tâm can, nhưng tình yêu cũng như mùi hương vẫn chắp cánh vượt thời gian, không sợ tuổi già năm tháng, mà lại suốt đời miên man.

Quizás nghĩa là “có lẽ”, và bản tiếng Anh do Joe David viết lời cũng dịch nguyên cái tên này thành Perhaps, Perhaps, Perhaps dù nội dung đã thay đổi hoàn toàn.Trong tiếng Pháp, tác giả Jacques Larue dùng cách chuyển ngữ tài tình, dịch thoát được cái ý mà vẫn giữ được sự gần giống trong âm điệu của ca từ. Bản nhạc Qui Sait Qui Sait hiểu theo nghĩa Nào Ai Hay Biết tuân thủ phiên âm nguyên thủy của Quizás Quizás (hiểu theo nghĩa Có lẽ, Có lẽ).

Với thời gian, bản nhạc Quizás Quizás chẳng những được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng kể cả tiếng Hindi, Ả Rập hay Do Thái, mà còn được phối theo nhiều thể điệu khác nhau : từ mambo đến cha cha, từ salsa đến flamenco. Người Cuba thì chủ yếu hát bài này trong điệu bolero : tiết tấu chậm rãi nhịp điệu khoan thai, phá cách theo lối thoát nhịp chứ ít có đảo phách, nhấn mạnh nhịp lẻ.

Quizás, Quizás, Quizás (dance)

Siempre que te pregunto
Que, cuándo, cómo y dónde
Tú siempre me respondes
Quizás, quizás, quizás

Y así pasan los días
Y yo, desesperando
Y tú, tú contestando
Quizás, quizás, quizás

Estás perdiendo el tiempo
Pensando, pensando
Por lo que más tú quieras
¿Hasta cuándo? ¿Hasta cuándo?

Y así pasan los días
Y yo, desesperando
Y tú, tú contestando
Quizás, quizás, quizás

Estás perdiendo el tiempo
Pensando, pensando
Por lo que más tú quieras
¿Hasta cuándo? ¿Hasta cuándo?

Y así pasan los días
Y yo, desesperando
Y tú, tú contestando
Quizás, quizás, quizás

Gif+animado+rosas+flores+0423

English translation of original Spanish lyrics:

“Perhaps, Perhaps, Perhaps”

I am always asking you
When, how and where
You always tell me
Perhaps, perhaps, perhaps

The days pass this way
And I am despairing
And you, you always answer
Perhaps, perhaps, perhaps

You are wasting time
Thinking, thinking
That which you want most
Until when? Until when?

The days pass this way
And I am despairing
And you, you always answer
Perhaps, perhaps, perhaps

You are wasting time
Thinking, thinking
That which you want most
Until when? Until when?

The days pass this way
And I am despairing
And you, you always answer
Perhaps, perhaps, perhaps

229e81297071ee36bbd695a9f1b22dcd

English lyrics:

“Perhaps, Perhaps, Perhaps”

You won’t admit you love me and so
How am I ever to know
You only tell me
Perhaps, perhaps, perhaps

A million times I ask you and then
I ask you over again
You only answer
Perhaps, perhaps, perhaps

If you can’t make your mind up
We’ll never get started
And I don’t want to wind up
Being parted, broken hearted

So if you really love me say, “yes”
But if you don’t, dear, confess
And please don’t tell me
Perhaps, perhaps, perhaps

If you can’t make your mind up
We’ll never get started
And I don’t want to wind up
Being parted, broken hearted

So if you really love me say, “yes”
But if you don’t, dear, confess
And please don’t tell me
Perhaps, perhaps, perhaps
Perhaps, perhaps, perhaps
Perhaps, perhaps, perhaps

Có lẽ, có lẽ, có lẽ

Anh sẽ chẳng yêu em phải không?
Làm sao em biết được
khi anh chỉ nói:
“có lẽ….có lẽ….có lẽ…”
Em đã hỏi anh cả triệu lần rồi
Và em lại hỏi anh một lần nữa
nhưng anh vẫn chỉ trả lời:
“có lẽ… có lẽ… có lẽ…”

Nếu anh không nhứt quyết được
Thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ bắt đầu được
Và em chẳng muốn làm ầm lên
Để rồi chia tay, tan vỡ….
Vậy thì nếu yêu em, xin anh hãy nói “yêu em”
Còn nếu anh không yêu em thì hãy xám hối đi
Xin đừng nói với em nữa hai từ:
“có lẽ… có lẽ… có lẽ…” nữa….

 

Comments (1) »

Nghe lại bản gốc tuyệt đẹp ‘La Paloma’: Ca khúc vượt qua cả ‘Yesterday’ về kỷ lục thu âm mọi thời đại

Có một ca khúc chinh phục mọi trái tim, mọi quốc gia, mọi ngôn ngữ…để nói về hòa bình và tình yêu vĩnh cửu vượt trên cái chết, đó là ca khúc nào?

Gplus-1324493345

Vào năm 492 trước Công Nguyên, linh hồn của những người thủy thủ ra đi trên một chiến hạm bị đắm trong cơn bão đã hóa thành những chú chim bồ câu bay vào đất liền để báo tin cho người thân, trao gửi những yêu thương cuối cùng… 

Đó là lý do mà bồ câu từ đó đã trở thành biểu tượng của hòa bình và yêu thương. Sự xúc động mãnh liệt từ câu chuyện này đã đem đến một kiệt tác âm nhạc cho nhân loại, một ca khúc dù đã 156 tuổi nhưng chưa hề già đi ở bất cứ góc phố nào trên thế giới: La Paloma.

Câu chuyện về những người thủy thủ ra đi vĩnh viễn không trở về.

Ca khúc La Paloma (tên Việt: “Cánh buồm xa xưa”) bắt nguồn từ câu chuyện xưa về cuộc xâm lược xứ Hy Lạp của vua Darius I nước Ba Tư vào năm 492 trước Công nguyên, thời điểm mà chim bồ câu còn chưa được biết đến ở châu Âu.

Lúc đó, hạm đội Ba Tư do đại tướng Mardonius chỉ huy đã gặp phải một trận bão ngoài khơi đỉnh Athos, nhiều thuyền chiến Ba Tư đã bị đắm trong trận bão này.

Nhiều thuyền chiến Ba Tư đã bị đắm trong trận bão này. 

Người Hy Lạp đã nhìn thấy nhiều chú chim bồ câu bay ra khỏi các xác tàu Ba Tư bị đắm, bay qua biển mênh mông. Người ta đặt câu hỏi những chú chim bồ câu trắng này phải chăng là linh hồn của những thủy thủ hóa thân?

Hay những chú chim này mang về đất liền những thông điệp tình yêu cuối cùng của những thủy thủ đã bỏ mình giữa biển cả cho cha mẹ, vợ, con, người yêu?

Mối liên hệ cuối cùng của tình yêu vượt qua cả cái chết và sự chia ly đã được cất lên trong bài “Cánh buồm xa xưa” (bản thân cái tên tiếng Tây Ban Nha “La paloma” có nghĩa là “chim bồ câu”).

Trong khi lời bài hát ở các phiên bản ngoại ngữ có thể không đúng so với nguyên bản, tinh thần đó của bài hát vẫn được bảo tồn sau nhiều lần thu âm, dù dưới dạng nào và bài hát vẫn thể hiện được cao trào của sự chia ly với và đoàn tụ, cái chết và tình yêu vĩnh cửu. (Cảng Paloma như một biểu tượng vĩnh cửu về tình yêu vượt qua cái chết)

Bồ câu trắng của hòa bình và tình yêu.

Từ câu chuyện xa xưa đó, chim bồ câu và ca khúc Paloma đã trở thành biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu và ước vọng hòa bình.

Trong các cuộc chiến tranh, chim bồ câu còn được huấn luyện để đưa thư, và có rất nhiều những bức thư tình mà những chú chim bồ câu đã giúp kết nối giữa người ở nhà và người ra chiến trận, những bức thư thông báo kết thúc chiến tranh.

Chính trên bến cảng La Habana, nhạc sĩ người Tây Ban Nha Sebastian Iradier từ cảm hứng của câu chuyện xưa và đàn bồ câu trắng đã sáng tác nên kiệt tác bất hủ này, khi ông đến thăm Cuba vào năm 1861 và bài hát ra đời khoảng vào năm 1863.

Ảnh hưởng của thể loại nhạc Habanera, một kiểu nhạc dance rất phổ biến ở Cuba trong thế kỉ 19 thường đã tạo nên những giai điệu rất khác biệt cho La Paloma, và dù được dịch ra ở thứ tiếng nào, và chơi bằng loại nhạc cụ nào đi nữa thì ai đều cũng có thể cảm nhận được khát khao về tình yêu và hòa bình được truyền tải trong bài hát này.

Chính trên bến cảng La Havana, người nhạc sĩ đã viết nên ca khúc này 

Khi lời hát du dương cất lên, người ta có cảm giác trái tim như tan chảy…

Một ca khúc trở thành dân ca…

La Paloma được chuyển thể cho rất nhiều phiên bản và nhạc cụ và phổ biến đến mức ở một số nước như Mexico, Tây Ban Nha, Philippines, Đức, Romani…bài hát đã trở thành một dạng nhạc dân ca. Đây là một trong những bài hát được dịch ra nhiều thứ tiếng và có nhiều phiên bản nhất.

“La Paloma” thuộc loại bài hát phổ biến rộng rãi nhất thế giới.  Trong tiếng Tây Ban Nha, “La Paloma” là chim bồ câu. Giai điệu đằm thắm mang phong vị “habanera” từ điệu nhảy dân gian của những người dân vùng Habana trên hòn đảo Cuba thời đó nên có nơi đã lầm tưởng “La Paloma” là một bài dân ca. Lời ca thể hiện xúc cảm trước biển rộng bao la, sóng xô lớp lớp, những con tàu ra khơi với các chàng thủy thủ mang theo hình ảnh những người thân yêu mắt ngấn lệ trên bờ dõi theo và những chú chim câu để chuyển những bức thư  tâm tình về quê nhà. Những lời ca của bài hát được diễn tả bằng đủ loại ngôn ngữ trên thế giới nhiều đến mức không thể kể xiết. Ngay ở Việt Nam cũng vậy, mỗi ca sĩ hát lời theo ý thích khác nhau, song nói chung họ vẫn lưu giữ “hồn” nguyên tác . Một trong những lời ca đã được đặt từ hơn 50 năm trước như  sau:

“Khi tôi rời quê hương Habana làng quê mong chờ
Trên cao cánh bồ câu đang lướt nơi chân mây xa mờ
Thuyền ai đang lênh đênh, làn khói biếc sương bay ngang lưng trời
Lớp lớp sóng vỗ mênh mông đua theo cánh chim tuyệt vời

Ôi! Chim câu trắng nhỏ xinh
Qua quê ta chim dừng đôi cánh
Hãy giùm ta đưa tấm lòng thương nhớ thiết tha
Về tận nơi mái nhà xa…”

Huyền thoại về các chàng thủy thủ thời xưa mang theo chim câu để đưa tin về nhà đã lưu truyền từ xa xưa. Khoảng thế kỷ thứ V trước công nguyên, những trận chiến ác liệt đã diễn ra giữa Hy Lạp và Ba Tư (nay gọi là Iran), mỗi bên đều có lúc thắng, lúc thua. Một trong những trận ác liệt có tiếng nhất là trận Marathon. Khi thắng trận, một người lính Hy Lạp đã chạy một mạch vượt qua quãng đường 42,195 km về đến đại bản doanh báo tin và chỉ kịp thốt lên: “Quân ta đã thắng!” thì gục ngã và chết vì kiệt sức. Để kỷ niệm sự kiện này, các cuộc đua thể thao Olympics sau đó và cho đến ngày nay đều có thi chạy đường dài marathon với cự ly 42,195 km.

Còn một lần khác, hải thuyền của quân Ba Tư  đang chuẩn bị đổ bộ lên chỗ dãy núi nhô ra biển của bán đảo Athos, phía tây bắc Hy Lạp, thì gặp bão. Toàn bộ 300 chiến thuyền và hàng vạn chiến binh Ba Tư  bị chìm.

Đứng trên núi nhìn xuống, người Hy Lạp thấy những đàn chim câu trắng bay ra từ  những chiến thuyền đang chìm và người ta cho rằng các thủy thủ Ba Tư  đã mang theo chúng để nhắn tin về nhà. Trong giờ phút lâm chung, các chú chim câu ấy đã được thả ra để đưa về quê nhà tin nhắn cuối cùng của họ.

Dc1a9cba93ebd056c00e77eca6744f99

No More

Elvis Presley

No more do I see the starlight caress your hair
No more feel the tender kisses we used to share
I close my eyes and clearly my heart remembers
A thousand good-byes could never put out the embers

Darling I love you so and my heart forever
Will belong to the memory of the love that we knew before
Please come back to my arms, we belong together
Come to me let’s be sweethearts again and then let us part no more.

No more do I feel the touch of your hand on mine
No more see the lovelight making your dark eyes shine
Oh how I wish I never had caused you sorrow
But don’t ever say for us there is no tomorrow

Darling I love you so and my heart forever
Will belong to the memory of the love that we knew before
Please come back to my arms, we belong together
Come to me let’s be sweethearts again and then let us part no more.

Dịch ý

Tôi không còn thấy ánh sáng của vì sao lấp lánh trên mái tóc em
Không còn cảm thấy những nụ hôn dịu ngọt chúng ta từng chia sẻ
Tôi nhắm mắt lại và trái tim tôi rõ ràng vẫn nhớ
Một ngàn lời tạm biệt không bao giờ  có thể dập tắt được những hy vọng nhỏ bé

Em ơi, tôi yêu em thật nhiều và trái tim tôi mãi mãi
Sẽ thuộc về kí ức của tình yêu mà chúng ta đã có trước đây
Xin hãy quay về trong vòng tay tôi, chúng ta thuộc về nhau
Đến với tôi, hãy là người yêu của nhau lần nữa và rồi đừng bao giờ để chúng ta chia xa

Tôi không còn cảm thấy bàn tay em chạm nhẹ lên tôi
Không còn nhìn thấy tia sáng tình yêu làm đôi mắt em lung linh
Ôi, tôi ước tôi đã không làm em đau khổ
Nhưng đừng bao giờ nói với chúng ta là không còn ngày mai

Em ơi, tôi yêu em thật nhiều và trái tim tôi mãi mãi
Sẽ thuộc về kí ức của tình yêu mà chúng ta đã có trước đây
Xin hãy quay về trong vòng tay tôi, chúng ta thuộc về nhau
Đến với tôi, hãy là người yêu của nhau lần nữa và rồi đừng bao giờ để chúng ta chia xa

 

Leave a comment »

Make Up! & ( Tuổi trẻ ra đi rồi ! )

Tình yêu đôi lứa phải chăng là một khái niệm rất trừu tượng và có thật ít người hiểu nó , người ta mãi đam mê đắm chìm trong men say nồng  nhưng lại ít nói tới bản chất thực sự của tình yêu đôi lứa giữa nam và nữ. Bản chất thực sự của tình yêu đôi lứa giữa nam và nữ đó chính là để duy trì nòi giống , tạo một gia đình , gia đình là tế bào của xã hội. Tình yêu đó nó luôn được mọi người trong xã hội tôn trọng và  có luật pháp bảo vệ quyền lợi cho các cặp đôi yêu nhau rồi trở thành một gia đình với những đứa con được sinh ra  một cách tự nhiên từ  sự đơm hoa kết trái của tình yêu đôi lứa.

Còn tình yêu bách hợp hay đam mỹ nó lạc loài so với tình đôi lứa vì người ta cho rằng nó trái quy luật tự nhiên và mọi người không muốn hiểu nó, vậy nên các bộ phim bách hợp thường có kết thúc thật đau buồn ( kết thúc không có hậu ) như trong các bộ phim sau đây.

Phim Make up khai thác đề tài  bách hợp giữa cô giáo và học sinh , ( cũng có khá nhiều bộ phim có cốt truyện là tình cảm giữa cô trò ) trong phim cảnh lãng mạn giữa hai người khiến tim tôi thổn thức . Nhân vật cô giáo có nói một câu và câu đó cũng chính là câu then chốt  nhất.

Chúng mình hai đứa làm sao có con được chứ.

1854552

Hqdefault (1)

Hqdefault

Make-Up-2011-1

Ma jeunesse fout le camp

( Tuổi trẻ ra đi rồi ! )

( Chanteuse : Francoise Hardy )

Ma jeunesse fout l’camp
Tout au long d’un poème
Et d’une rime à l’autre
Elle va bras ballants
Ma jeunesse fout l’camp
A la morte fontaine
Et les coupeurs d’osier
Moissonnent mes vingt ans

Tuổi trẻ ra đi rồi
Men theo dọc triền thơ
Vần điệu đến ngôn từ
Với cánh tay run rẩy
Tuổi trẻ ra đi đấy
Khi dòng nước ngừng trôi
Và những cành miên liễu
Nhặt lại tuổi đôi mươi.

Nous n’irons plus au bois
La chanson du poète
Le refrain de deux sous
Les vers de mirliton
Qu’on chantait en rêvant
Aux garçons de la fête
J’en oublie jusqu’au nom
J’en oublie jusqu’au nom

Mình không tới khu rừng
Bài hát của nhà thơ
Điệp khúc giá hai xu
Lời nhạc thì quá dở
Mình vừa hát vừa mơ
Về những chàng vui tính
Mà tôi không còn nhớ
Tôi không còn nhớ tên.

Nous n’irons plus au bois
Chercher la violette
La pluie tombe aujourd’hui
Qui efface nos pas
Les enfants ont pourtant
Des chansons plein la tête
Mais je ne les sais pas
Mais je ne les sais pas

Ta không tới khu rừng
Tìm nhành violette
Mưa đổ ngày hôm nay
Xoá đi bàn chân – vết
Mà sao những đứa trẻ
Đầu óc đầy bài ca
Nhưng tôi không biết chúng
Nhưng chúng không quen tôi .

Ma jeunesse fout l’camp
Sur un air de guitare
Elle sort de moi même
En silence à pas lents
Ma jeunesse fout l’camp
Elle a rompu l’amarre
Elle a dans ses cheveux
Les fleurs de mes vingt ans

Tuổi trẻ ra đi rồi
Trên khúc đệm guitare
Rời bỏ tôi lặng lẽ
Bằng bước chân nhẹ nhàng
Tuổi trẻ cũng dứt cả
Dải  nơ  cài mái tóc
Bông hoa tuổi đôi mươi

Nous n’irons plus au bois
Voici venir l’automne
J’attendrai le printemps
En effeuillant l’ennui
Il ne reviendra plus
Et si mon cœur frissonne
C’est que descend la nuit
C’est que descend la nuit

Ta không tới khu rừng
Nơi mùa thu đang đến
Tôi đợi chờ xuân vậy
Khi trút lá ưu phiền
Mùa xuân còn trở lại ?
Nhịp đập của trái tim
Khi màn đêm buông xuống
Khi buông xuống màn đêm.

Nous n’irons plus au bois
Nous n’irons plus ensemble
Ma jeunesse fout l’camp
Au rythme de tes pas
Si tu savais pourtant
Comme elle te ressemble
Mais tu ne le sais pas
Mais tu ne le sais pas

Ta không đến khu rừng
Chẳng đi cùng nhau nữa
Tuổi trẻ đã trôi xa
Theo nhịp chân anh bước
Giá mà người hiểu được
Tuổi trẻ cùng như  anh
Nhưng anh chẳng biết đâu
Chẳng bao giờ anh biết…

Leave a comment »

Hold Me For A While (Ôm em trong phút giây)

Thú vị với những “diện mạo” khác của các ca khúc hit đình đám

Những ca khúc đặt lời Việt như Say tình, Bình minh sẽ mang em đi… đã trở thành “Hit” của một ca sĩ Việt Nam trong thời gian dài. Bạn đã bao giờ thử nghe Say tình với phiên bản tiếng Ấn và nghe người Thụy Điển hát Bình minh sẽ mang em đi?

Một ca khúc với giai điệu tuyệt vời có thể được cả thế giới ngợi ca, cả thể giới hát bằng rất nhiều ngôn ngữ khác nhau của từng dân tộc. Rất nhiều những ca khúc “hit” của âm nhạc thế giới đã được đặt lời Việt và ngay khi xuất hiện nó đã làm “lũng đoạn” thị trường âm nhạc Việt Nam.
Say tình, Lạc mất mùa xuân, Bình minh sẽ mang em đi… Trước khi đến Việt Nam, trước khi trở thành những bản “hit” làm nên sức nóng cho cái tên XXX, những ca khúc này đã “chu du” và làm say lòng người yêu nhạc khắp thế giới.
Hãy cùng trải nghiệm thú vị với những “diện mạo” khác của những ca khúc “hit” bạn đã từng thuộc nằm lòng. Hãy thử nghe Say tình bằng tiếng Ấn, nghe Búp bê không tình yêu của MT với phiên bản tiếng Pháp, và thử nghe người Thụy Điển hát Bình minh sẽ mang em đi…
Hold Me for a While (Ôm em trong phút giây) là một bản nhạc đồng quê nhẹ nhàng của ban nhạc Thụy Điển Rednex, ghi âm năm 1998 và nổi tiếng trên khắp các quốc gia nói tiếng Anh vì giai điệu trữ tình ngọt ngào, sâu lắng và da diết kể về câu chuyện tình đến phút chia ly day dứt của đôi tình nhân yêu nhau say đắm. Lời Việt gần như trung thành giữ nguyên ý của bài hát tiếng Anh. Người đặt lời cho bài hát cũng chính là một trong những ca sĩ biểu diễn rất thành công nhạc phẩm này là XXX.

6a013486d6ac7d970c022ad39a6abf200b-800wi

Hold Me For A While

Hold, hold me for a while 
I know this won’t last forever 
So hold, hold me tonight 
Before the morning takes you away 

What’s that sparkle in your eyes? 
Is it tears that I see? 
Oh tomorrow you are gone 
So tomorrow I’m alone 
Short moments of time 
We have left to share our love 

We’re in eachothers arms 
Soon we’re miles apart 
Can you imagine how I’ll miss, 
Your touch and your kiss? 
Short moments of time 
We have left to share our love 

Hold, hold me now, 
From dusk all night to dawn
Save, save me now, 
A short moment of time

6a013486d6ac7d970c022ad392586f200c-800wi

Xin hãy ôm em một lúc nữa
Em biết điều này sẽ không tồn tại mãi
Vì thế hãy ôm em đêm nay
Trước khi ánh bình minh mang anh đi xa

Ánh chớp trong mắt anh là gì thế?
Có phải chăng là nước mắt em nhìn thấy?
Ôi, ngày mai anh sẽ đi xa
Vì thế ngày mai em sẽ lẻ loi một mình
Những khoảnh khắc ngắn ngủi bên nhau
Chúng ta đã dành để chia sẻ tình yêu chúng ta

Chúng ta đang ở trong vòng tay nhau
Rồi chúng ta sẽ sớm cách xa vạn trùng
Anh có thể tưởng tượng em sẽ nhớ thế nào
(Nhớ) Cái vuốt ve của anh và nụ hôn của anh?
Những khoảnh khắc ngắn ngủi bên nhau
Chúng ta đã dành để chia sẻ tình yêu chúng ta

Xin anh hãy ôm em
Từ hoàng hôn, suốt đêm cho đến bình minh
Cứu vớt, xin hãy cứu vớt em
Một giây phút ngắn ngủi

Mang anh đi xa mãi

 

Leave a comment »

Doin’ The Best I Can

Hôm nay  tôi muốn đi chơi nhưng tôi bị bệnh và không thể ra khỏi nhà.

Chìm đắm trong những giấc mộng của ngày xưa cũ với một bài hát của Elvis , kể từ ngày chia tay em tôi chẳng nắm giữ hình bóng nào hết .Trước đây lúc tôi còn yêu em, tôi có trái tim theo nhịp điệu sinh học nhưng bây giờ trái tim tôi theo những giai điệu vật lý.

Tôi bây giờ sống trong hiện tại và yêu bản thân mình nhiều hơn bao giờ hết , cuộc sống trần thế quá ngắn ngủi yêu thương riêng mình còn chẳng đủ ,còn thời gian đâu để yêu thương người khác khi người ấy chẳng bao giờ thuộc về mình.

Hoa tàn , tôi in hình cánh hoa yêu thương vào chiếc bình nước uống trà hằng ngày , chiếc bình ấy cũng hư hỏng hao mòn như thời gian trôi qua mỗi ngày rồi chìm vào quên lãng.

Tôi , hàng ngày vẫn làm công việc mà tôi cho là tốt nhất.

Hg21 (20)

Doin’ The Best I Can

Elvis  Presley

I gave my heart
I gave my love
Oh ho, my darling
I am true
Doin the best
The best I can
But its not good enough for you

I tried so hard
So hard to please
Oh ho, my darling
What more can I do
Doin the best
The best I can
But its not good enough for you

You know I was the kind who’d run
Any time youd call
I guess I was the only one
Who didnt mind at all
Ill be a dreamer
Ill be a fool
Oh ho, my darling
My whole life through
Doin the best
The best I can
But its not good enough for you

You know I was the kind who’d run
Any time youd call
I guess I was the only one
Who didnt mind at all
Ill be a dreamer
Ill be a fool
Oh ho, my darling
My whole life through
Doin the best
The best I can
But its not good enough for you
But its not good enough for you

Anh trao trái tim mình
Anh trao em tình yêu của anh
Oh ho,em yêu của anh
Anh chân thật
Anh làm hết sức mình
Hết sức anh có thể
Nhưng vẫn không đủ tốt cho em

Anh rất cố gắng
Rất cố gắng để làm em hài lòng
Oh ho em yêu
Anh có thể làm gì hơn nữa đây
Làm hết sức mình
Hết sức anh có thể
Nhưng vẫn không đủ tốt cho em

Em có biết anh chính là người sẽ chạy đến bên em bất cứ khi nào em gọi
Anh đoán rằng mình là người duy nhất chẳng ngại ngùng
Anh sẽ là người mơ mộng
Anh sẽ chàng ngốc
Oh ho,em yêu
Suốt cả cuộc đời anh
Anh làm hết sức mình
Hết sức anh có thể
Nhưng vẫn không đủ tốt cho em.

Leave a comment »