Ca Dao: khoa học dân gian phản ánh lịch sử

Ca nghĩa là hát , dao nghỉa là ko có chương khúc như trong văn chương bác học.Ca dao là những bài hát ko thành chương khúc.Ca dao có những đặc tính của khoa học.

Tính cách phổ biến trong dân gian, từ ngàn xưa tới giờ , ko những khắp nước mà có khi từ phương đông sang phương tây.Thí dụ như câu ca dao về sự bất trắc của cuộc đời:

Còn đời ngươi ấy ngươi ơi, Nào ngươi đã bảy , tám mươi đâu mà.

Bên Pháp cũng có câu ca dao”Noel au balcon, Pa^ques  au tison ( Noel ở ban công , Pa^ques ở lò sưởi )

d307d-6a013486d6ac7d970c022ad3a7bf4e200b-pi

Ý nói ko phải năm nào vào dịp Noel tuyết cũng rơi , vào dịp lễ Pa^ques là trời ấm áp.Có năm thời tiết ấm áp vào dịp Noel và rét mướt vào dịp Pa^ques.Còn có thể kể ra nhiều thí dụ khác nữa như ta sẽ thấy sau đây.Khoa học cũng có tính cách tổng quát  như vậy. Nhà triết học Aristote đã từng nói : “Chỉ có cái gì tổng quát mới là khoa học”

Điểm giống  nhau thứ hai là tính cách vô danh hay khuyết danh.Tác giả ca dao là dân chúng từ mấy ngàn năm , trừ một vài ca dao gắn liền với các biến cố lịch sử.có lẽ lúc  ban đầu cũng do một người vì có cảm súc mà làm nên rồi người đời sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi cho đến tận bây giờ.Các thành tựu khoa học mà ta biết rõ tác giả chỉ là thiểu số, thường là thành tựu gần đây.Các phát minh khoa học – nhất là các phát minh có từ lâu rồi – ta không biết ai là tác giả.

Về thời gian cũng vậy : một ca dao có từ năm nao?điểm này cũng nhích ca dao gần với khoa học.

Điểm giống thứ tư là có những ca dao có tính cách khẳng định như những định luật khoa học:

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa , Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa”.

Hay là ca dao về Tuần trăng:

“Mồng một không trăng

Mồng hai không trăng

Mồng ba câu liêm

Mồng bốn lưỡi liềm….”

Ca dao phản ánh lịch sử một nước , danh từ lịch sử được hiểu theo nghĩa rộng nhất:Lịch sử khoa học ( Thiên văn và Khí tượng) , lịch sử nền văn minh, lịch sử của địa lý.

về Thiên văn thì có bài về Tuần trăng ở trên , về thời tiết , ngoài bài về Chuồn chuồn đã kể ở trên còn:

Tháng bảy heo may , chuồn chuồn bay thì bão”, “Thâm đông , hồng tây dựng may,Ai ơi , ở lại ba ngày hãy đi”.

Ca dao về lịch sử địa lý

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Võ canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói toả ngàn sương

Nhịp chày An Thái , mặt gương Tây Hồ.

7870d93fdb13a18e48c409b7f7777a14

Phong cảnh này ở phía bắc thành phố Hà Nội, “khu tiểu la tinh” với các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở.Mùa thi, thí sinh tụ tập ở đường Cổ Ngư – nay là đường Thanh Niên, với hai rặng phượng vĩ nở đỏ ối , giữa một bên là hồ Trúc Bạch với đền Trấn Võ, một bên là Hồ Tây với chùa Trấn Quốc.Trấn Võ là tên chữ của một cái đền mà dân chúng gọi là đền Quan Thánh, tên một ông tướng huyền thoại , trấn thủ thành phố Hà Nội mặt ngoảnh về phương Bắc vì ngày xưa kẻ thù đến từ phương Bắc.

“Canh gà” là lúc gà gáy sáng.Huyện Thọ Xượng  ngày xưa ở trung tâm Hà Nội, về sau một nhà thờ Thiên Chúa và một tư thục của các linh mục được xây cất ở đó.Làng Yên Thái chuyên chế tạo giấy bản bằng cách giã bột giấy.

Tóm lại, ca dao – một khoa học dân gian – phản ảnh Tổ quốc thâm trầm , lịch sử khoa học của non sông, lịch sử phong tục , lịch sử đất nước.Ta không lấy làm lạ  ngoại quốc đánh giá cao loại thi văn này vì là tiếp cận trực tiếp với các đặc điểm của một dân tộc.

Advertisements

Leave a comment »

Ba Hoa Tiên Sinh ( Trích từ sách Trầm Tưởng ) & Self Control

Tôi ngán ngẩm những kẻ ba hoa ; linh hồn tôi kinh tởm họ.

Buổi sáng , khi thức dậy để đọc kỹ thư từ và báo chí đặt sẵn bên giường , tôi thấy chúng đầy dẫy ba hoa; tôi thấy toàn những chuyện lòng thòng vô nghĩa , thừa mứa đạo đức giả.

Khi tôi ngồi bên cửa sổ để giũ sạch chiếc mạng buồn ngủ khỏi hai con mắt mình và nhấp ly cafe đen pha theo lối Thổ Nhĩ Kỳ, Ba hoa tiên sinh xuất hiện trước mặt tôi , chân nhảy lò cò , miệng hết la hét lại lẩm bẩm lầm bầm.

Khi tôi đi làm hắn đi theo, thì thầm bên tai tôi và kích thích trí não nhạy bén của tôi. Khi tôi ra sức buông bỏ hắn , hắn cười khúc khích , rồi chẳng bao lâu lại tìm cách chen vào như nước lũ tràn tới bằng những chuyện trò vớ vẩn .

Khi tôi ra chợ , nơi ngưỡng cửa các gian hàng đều có hắn đứng , phê bình phán xét người qua kẻ lại. Thậm chí tôi còn thấy hắn trên những bộ mặt im lặng vì hắn cũng tháp tùng họ. Họ không nhận ra sự có mặt của hắn tuy hắn đang quấy rầy họ.

Nếu tôi ngồi với một người bạn , hắn làm kẻ thứ ba không mời mà đến.Nếu tôi lảng tránh hắn , hắn tìm cách cố xích lại thật gần để cho âm vang tiếng nói của hắn kích thích tôi , làm dạ dày tôi lộn lạo như ăn phải thịt ôi.

Tumblr_nedh40Z0UQ1sk87juo1_500

Khi ghé thăm các cung đình và  viện học thuật, tôi thấy Ba hoa tiên sinh cùng cha mẹ của hắn khoác áo Dối trá bên trong y phục lụa là và Đạo đức giả bên trong áo choàng lộng lẫy với khăn quấn đầu xinh đẹp.

Đến thăm các văn phòng , cơ quan , tôi cũng kinh ngạc khi thấy ở đó có mặt Ba hoa tiên sinh đứng giữa mẹ hắn , dì hắn , ông nội hắn , đang trò chuyện , nhóp nhép đôi môi dày cộm của mình. Và các thân nhân đó vỗ tay  tán trợ hắn , chế giễu tôi.

Trong chuyến tôi viếng thăm đền đài cùng những chốn thờ phượng khác , lại thấy có Ba hoa tiên sinh ở đó, ngồi trên ngai , đầu đội mũ miện , trong tay cầm quyền trượng lấp lánh.

Quay về nhà lúc chiều tà, tôi thấy hắn ở đó . Hắn treo mình lơ lửng trên trần nhà như con rắn , hoặc trườn trong bốn góc nhà như con trăn.

Tóm lại , có thể tìm thấy Ba hoa tiên sinh ở khắp nơi mọi chốn, bên trong và bên kia các tầng trời, trên mặt đất và trong lòng đất, trên đôi cánh thinh không và đầu ngọn sóng biển , trong rừng sâu, dưới hang động và trên đỉnh núi.

Liệu người yêu thích thinh lặng và tĩnh mịch có thể tìm được nơi nào không có hắn để nghỉ ngơi?Liệu Thượng đế có bao giờ thương xót linh hồn tôi và ban cho tôi ơn được câm nín để tôi có thể ở yên trong vườn địa đàng Im lặng?

Liệu trong vũ trụ này có xó xỉnh nào cho tôi đi tới đó để được sống trong hạnh phúc?

Liệu có nơi nào không là nơi buôn những chuyện trống rỗng?

Liệu có nơi nào trong quả đất này người ta không nói lời sùng bái bản thân , thao thao bất tuyệt?

Liệu có người nào trong tất cả mọi người mà miệng của hắn không là nơi ẩn núp của Ba hoa tiên sinh tinh quái và đểu cáng?

Nếu chỉ một loại ba hoa thôi , tôi sẽ nhẫn nhục cam chịu. Nhưng Ba hoa tiên sinh nhiều vô số kể. Có thể chia chúng thành các dòng họ và các bộ tộc.

Có những kẻ sống trong đầm lầy suốt ngày nhưng khi đêm đến , chúng lội vào bờ , trồi đầu lên khỏi mặt nước hay mặt bùn loảng , và chúng khiến cho đêm thanh vắng ngập tràn những tiếng kêu ồm ộp khủng khiếp làm nổ tung màng nhĩ.

Có những kẻ thuộc dòng họ muỗi mắt .Chúng bay lượn quanh đầu chúng ta , tạo thành những âm thanh cực kỳ nhỏ nhưng ghê gớm và đáng ghét.

Có những dòng họ gồm các thành viên nốc ừng ực bia rượu và đứng nơi góc đường , làm thinh không tràn ngập những tiếng lè xè đục quánh hơn bãi trâu đầm.

Chúng ta cũng thấy một bộ tộc kỳ cục gồm những kẻ sống cho qua thời gian nơi nấm mộ của Cuộc đời, bằng cách cải biến im lặng thành một loại than thở nghe thảm thiết hơn tiếng rúc của chim cú.

Rồi có các bang hội gồm những Ba hoa tiên sinh , tưởng tượng cuộc đời như khúc gỗ để từ cái đó chúng cố sức đẽo gọt ra một cái gì đó cho chính chúng nhằm tâng bốc chúng.Và tiếng đẽo gọt của chúng nghe ken két gớm ghiếc hơn tiếng đinh tai nhức óc của máy cưa.

Đi theo bang hội ấy là một môn phái gồm những sinh vật tự nện mình bằng chày gỗ , làm phát ra những tiếng kêu rỗng tuếch và kinh hoàng hơn cả tiếng trống long tong của người rừng rú hoang dã.

Hỗ trợ các sinh vật ấy là một chi phái gồm các thành viên chẳng làm gì cả , chỉ ngồi xuống những nơi kê sẵn ghế và nhai nuốt lời nói thay vì thốt ra chúng.

C93e9edf350e3317e10ebd69aadaa893

Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp một buổi liên hoan của những kẻ ba hoa, thêu dệt hết kiểu  này cách nọ nhưng vẫn chẳng ra quần ra áo.

Nhiều khi chúng ta tình cờ đi ngang một hội đoàn độc đáo của những kẻ ba hoa với các đại biểu của chúng y hệt chim sáo mà cứ tưởng mình là đại bàng khi chúng bay vút lên theo dòng chuyển động của những lời chúng phát biểu.

Và thế nào về những Ba hoa tiên sinh thích kéo chuông gọi người đi nhà thờ nhưng chúng không bao giờ đặt chân vào giáo đường.

Vẫn còn nhiều bộ tộc và nhiều dòng họ của Ba hoa tiên sinh nhưng chúng nhiều quá đếm không xuể. Theo ý kiến tôi, lạ lùng nhất là một môn phái gồm những thành viên gây rối vũ trụ , từ thời này sang thời khác, với tiếng ngáy và tự  làm mình thức giấc khi họ nói, “Chúng tôi uyên bác biết bao!

Sau khi bộc lộ sự ghê tởm của tôi đối với Ba hoa tiên sinh và những kẻ cùng chung chí hướng với hắn , tôi thấy mình như một bác sĩ không thể tự chữa trị , hoặc giống như kẻ bị kết án đang giảng dạy các bạn tù. Tôi đã và đang châm biếm Ba hoa tiên sinh cùng các bạn bè ba hoa của hắn bằng hành động ba hoa của chính tôi.Tôi chạy trốn những kẻ ba hoa nhưng tôi cũng là một tên trong bọn chúng.

Liệu Thượng đế có tha thứ các tội lỗi của tôi trước khi ngài ban ân phúc cho tôi và đặt tôi trong thế giới của Tư tưởng , Chân lý và Thương cảm , nơi không có mặt những kẻ ba hoa? 

0_6993f_8be78ffc_L

Sau khi ba hoa thì ta lại nghe nhạc thư giãn nha 

Self Control

Laura Branigan

Oh the night, is my world
City light, painted girl
In the day, nothing matters
It’s the night, time that flatters

In the night, no control
Through the wall, something’s breaking
Wearing white, as you’re walkin’
Down the street, of my soul

You take my self, you take my self control
You got me livin’ only for the night
Before the morning comes the story’s told
You take my self, you take my self control

Another night, another day goes by
I never stop, myself to wonder why
You help me to, forget to play my role
You take my self, you take my self control

I, I live among the creatures of the night
I haven’t got the will to try and fight
Against a new tomorrow, so I guess I’ll just believe it
That tomorrow never comes

A safe night, I’m livin’ in the forest of my dream
I know the night is not as it would seem
I must believe in somethin’, so I’ll make myself believe it
That this night will never go

Oh the night, is my world
City light, painted girl
In the day, nothing matters
It’s the night, time that flatters

You take my self, you take my self control
You got me livin’ only for the night
Before the morning comes the story’s told
You take my self, you take my self control

I, I live among the creatures of the night
I haven’t got the will to try and fight
Against a new tomorrow, so I guess I’ll just believe it
That tomorrow never knows

A safe night, I’m livin’ in the forest of a dream
I know the night is not as it would seem
I must believe in something, so I’ll make myself believe it
That this night will never go

You take my self, you take my self control
You take my self, you take my self control
You take my self, you take my self control

Tự chủ

Oh,đêm tối là thế giới của em

Ánh sáng phố đêm điểm tô cho người con gái

Ban ngày chẳng việc gì xảy ra

Đêm tối là thời gian tôn lên vẻ đẹp

Trong đêm,ko có sự kiểm soát

Điều gì đó vượt qua cả rào cản

Thả hồn xuống phố

Ăn mặc chỉnh tề

Anh làm em,làm em mất kiểm soát

Em chỉ như đang sống về đêm

Trước khi trời sáng,câu chuyện khép lại

Anh làm em đánh mất sự kiểm soát một đêm khác rồi ngày lại ngày qua

Chính em ko thể ngừng lại

Tự hỏi vì sao anh làm em quên đi vai trò của bản thân em

Anh lấy đi thân thể này,làm em mất tự chủ

Em,em sống trong ảo vọng về đêm

Em nào có ý chí để mà đấu tranh

Đối mặt với một ngày mới.em đoán chỉ còn tin tưởng vào nó

Rằng sẽ ko bao giờ có ngày mai một đêm an toàn

Em sống nơi cõi tiên Anh có biết rằng đêm tối ko như ta thấy

Em phải vững tin vào một điều gì đó

Và em cố gắng tự bản thân mình tin tưởng điều ấy

Rằng đêm nay sẽ ko bao giờ kết thúc

Oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh Oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh

Oh,đêm tối là thế giới của em

Ánh sáng phố đêm điểm tô cho người con gái

Ban ngày chẳng việc gì xảy ra

Đêm tối là thời gian tôn lên vẻ đẹp

Em,em sống trong ảo vọng về đêm

Em nào có ý chí để mà đấu tranh

Đối mặt với một ngày mới.em đoán chỉ còn tin tưởng vào nó

Rằng sẽ ko bao giờ biết đến ngày mai một đêm an toàn

Em sống nơi cõi tiên

Anh có biết rằng đêm tối ko như ta thấy

Em phải vững tin vào một điều gì đó

Và em cố gắng tự bản thân mình tin tưởng điều ấy

Rằng đêm nay sẽ ko bao giờ kết thúc

Oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh, oh-oh-oh

Anh lấy đi của em,lấy đi của em sự tự chủ.

Comments (1) »

Nghe lại bản gốc tuyệt đẹp: Scarborough Fair – ‘Giàn thiên lý đã xa’ – những điều đơn giản nhưng mãi mãi lưu hương…

Bài hát là những lời nhớ thương da diết của một cô gái gửi đến người yêu của mình – sống ở thành phố Scarborough, Ai Len. Họ đã chia tay nhau, và giờ đây – ở một nơi xa rất xa – cô gái hát cho chàng trai nghe. Nàng đưa ra những công việc “không thể thực hiện” cho chàng, nếu thực hiện được thì “chàng sẽ mãi là tình yêu chân thành của tôi”.

Bài hát “Scarborough Fair” là một bài hát dân ca xuất xứ từ Anh Quốc (Ai Len bao gồm trong đó), thời Trung Cổ. Người ta bắt đầu nghe bài hát này qua những người hát dạo thời đó, thường được gọi là “Bard” hay “Shapers”, khi họ di chuyển từ làng mạc này qua thành phố nọ.

Có phải bạn đang đi đến Scarborough Fair?
Thoảng mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương.
Xin hãy nhắc về tôi cho một chàng trai sống ở đó
Chàng ấy một thời là tình yêu chân thành của tôi

Hãy nói với chàng ấy làm cho tôi một chiếc ảo vải lanh.
Dệt bởi mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương.
Mà không cần khâu vá hay kim chỉ
Rồi chàng sẽ mãi là tình yêu chân thành của tôi.

Bảo chàng ấy tìm cho tôi một mẫu đất
Rau mùi tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương
Giữa vùng nước muối và bờ biển
Rồi chàng sẽ là tình yêu chân thành của tôi

Có phải bạn đang đi đến scarborough.
Thoảng mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương.
Tôi nhớ về một chàng trai đã từng ở đó.
Chàng ấy đã từng là tinh yêu rất chân thành của tôi

Ngày xưa các chàng tình nhân Hy Lạp đã tặng lá hương thảo (rosemary) cho người mình yêu. Hiện nay tại Anh Quốc cũng như tại một vài xứ Châu Âu, các cô dâu trong ngày cưới, vẫn còn dắt lên tóc lá hương thảo. Hương thảo tượng trưng cho tình yêu phụ nữ, vững bền, mạnh mẽ dù rằng tình yêu đến rất chậm.

Thyme – Cây húng tây, Cây húng tượng trưng cho sự Can Đảm. Bài hát này viết vào thời khi các chiến sĩ ra mặt trận, trong tay có cây mộc, gắn hình cây húng thêu bởi bàn tay của vợ hay người yêu, một hình ảnh nói lên lòng ngưỡng mộ sự can đảm của các chàng chiến sĩ.

Trong bài hát có nhắc tới bốn loại thảo mộc đó, có vẻ chúng rất tầm thường những câu hát về chúng lại rất thâm thúy.

Cũng không phải do hương thơm của chúng được người đời ca tụng, hoa với ý nghĩa và màu sắc tươi thắm, ngọc lan, hồng, dạ lý hương … đằng này chỉ là mùi hương của thảo mộc, những lá cây trông thấy hàng ngày, ai cũng có và dùng được.

Nhưng chính cái tầm thường đó là những gì con người giữ vào trí nhớ mạnh mẽ nhất và cô nàng nhạc sĩ đã nhẹ nhàng, khéo léo nhắc nhở người yêu hãy theo mùi hương mà trở về với tình yêu chân thật mà nàng đã trọn vẹn dành cho chàng.

Lịch sử bài hát

Người ta bắt đầu nghe bài hát Scarborough Fair qua những người hát dạo thời đó, thường được gọi là bard hay shapers, khi họ di chuyển từ làng mạc này qua thành phố nọ, mỗi nơi lời và cách hòa âm có thay đổi đôi chút.

Qua nhiều thế kỷ, dù lời hát có bất cứ thay đổi gì, nhưng câu thứ 2 trong cả 8 lời vẫn luôn được giữ nguyên “Parsley, Sage, Rosemary and Thyme”, đơn giản câu này chính là linh hồn của bản tình ca. Sau này không còn biết tác giả là ai. Hiện nay tại Anh quốc có nhiều lời hơi khác nhau, cho bản hát cùng mang tên “Scarborough Fair”, và có cùng nốt nhạc.

Giàn thiên lý đã xa

Trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Giàn thiên lý đã xa, phỏng dịch từ phiên bản lời Pháp có tựa Chèvrefeuille que tu es loin.

Nhưng chắc ít ai biết bài hát “Scarborough Fair”, giai điệu nhẹ nhàng, giản dị, mà Nhạc Sĩ Phạm Duy đã chuyển lời Việt, với tựa là “Giàn Thiên Lý”, là một bài hát tình yêu rất lãng mạn đã có từ nghìn xưa …

Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà.
Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa.
Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi.
Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi.

Này, này nàng hỡi, nhớ may áo cho người.
Giàn thiên lý đã xa tít mù khơi.
Tấm áo cắt ngay đã cắt trên khăn mượt mà.
Là chiếc chăn đắp chung những ngày qua.

Tìm một miếng đất cho gã si tình.
Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xăm
Miếng đất cắt hoang, miếng đất ngay bên giáo đường.
Biển sẽ ru tiếng hát bên trùng dương.

Giờ đã đến lúc tan ánh mặt trời.
Giàn thiên lý đã xa mãi người ơi.
Lấp đất hố tôi, lấp nối đôi tay cô nàng.
Thì hãy chôn trái tim non buồn tênh.

Laila-majnu2-er67_l

Scarborough Fair

Are you going to Scarborough fair?
Parsley, sage, rosemary and thyme
Remember me to one who lives there
He once was a true love of mine

Tell him to make me a cambric shirt
Parsley, sage, rosemary and thyme
Without no seam nor needlework
Then he’ll be a true love of mine

Tell him to find me an acre of land
Parsley, sage, rosemary and thyme
Between the salt water and the sea strand
Then he’ll be a true love of mine

Are you going to Scarborough fair?
Parsley, sage, rosemary and thyme
Remember me to one who lives there
He once was a true love of mine

Lời dịch

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary, and thyme.
Remember me to one who lives there,
She once was a true love of mine.

Người đang trên đường đến phiên Scarborough chăng?
Thoảng mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương.
Xin hãy nhắc về tôi với một bóng hình vẫn đương còn nơi đó,
Người con gái đã từng là tình yêu rất chân thành của tôi.

Tell her to make me a cambric shirt 
On the side of a hill in the deep forest green
Parsley, sage, rosemary, and thyme 

Tracing a sparrow on snow-crested ground

Without no seams nor needlework
Blankets and bedclothes the child of the mountain
Then she’ll be a true love of mine.
Sleeps unaware of the clarion call.

Xin nhắn nàng may cho tôi một chiếc áo vải lanh
Bên kia ngọn đồi thẳm sâu giữa lòng cánh rừng già
Dệt mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương
Lưu dấu sẻ nâu trên vòm đất tuyết phủ
Không có lấy dù chỉ một đường may vết vá
Đắp lên và vòng tay bọc lấy đứa con của núi đồi
Rồi nàng sẽ mãi mãi là tình yêu bất diệt của đời tôi.
An lành thiếp lặng giữa kèn gióng gọi quân.

Tell her to find me an acre of land
On the side of a hill, a sprinkling of leaves
Parsley, sage, rosemary, and thyme 
Washes the grave with silvery tears
Between salt water and the sea strands
A soldier cleans and polishes a gun 
Then she’ll be a true love of mine.
Sleeps unaware of the clarion call.

Xin nhắn nàng tìm giúp tôi một thửa đất nhỏ
Bên kia ngọn đồi rải rác những lá rơi 
Ươm mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương
Hàng lệ bạc gột rửa nấm mồ ai
Kẹp giữa những dòng biển mặn và bến bờ đại dương
Kẻ chiến binh súng trên tay lau chùi bóng bẩy
Và nàng sẽ mãi mãi là tình yêu bất diệt của đời tôi.
An lành thiếp lặng giữa kèn gióng gọi quân.

Tell her to reap it in a sickle of leather
War bellows, blazing in scarlet battalions
Parsley, sage, rosemary, and thyme 
Generals order their soldiers to kill
And gather it all in a bunch of heather 
And to fight for a cause 
Then she’ll be a true love of mine.
They’ve long ago forgotten.

Xin nhắn nàng hãy bằng chiếc liềm da
Chiến tranh bùng lên, thắm sắc quân đoàn áo đỏ
Gặt bụi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương
Lệnh tướng ban và quân sĩ bắn giết
Rồi bó lại thành chùm thạch nam
Chiến đấu vì một mục đích xa xăm
Và mãi mãi tôi sẽ yêu nàng tha thiết.
Mà từ lâu đã bỏ quên mất rồi.

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary, and thyme.
Remember me to one who lives there,
She once was a true love of mine.

Người đang trên đường đến phiên Scarborough chăng?
Vương mùi ngò tây, ngải đắng, hương thảo và xạ hương.
Xin hãy nhắc về tôi với một bóng hình vẫn đương còn nơi đó,
Người con gái đã từng là tình yêu rất đằm thắm của tôi.

5013947_2424a

Bài cổ ca “Scarborough Fair” (Lễ hội Scarborough Fair):
1/ Are you going to Scarborough Fair?
Bạn ơi, cậu có đi dự lễ hội Scarborough không?
(Hết chinh chiến rồi, bạn được về cố hương còn tôi ở lại)
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
Remember me to the one who lives there,
Gợi nhớ với cô nàng, người ở cố hương về kẻ ở lại (là tôi)
(Đây là lời trố trăn của chàng trai trước khi nhắm mắt)
For once she was a true love of mine.
Nàng là người yêu của tôi thuở trước.
(Là người yêu của tôi thuở trước, bây giờ thì hết rồi)
2/ Tell her to make me a cambric shirt,
Nhắn nàng hãy may cho tôi áo cưới Cambric,
(Cambric là áo kết đăng ten và thêu thùa cầu kỳ có nguồn gốc từ xứ Cambrai, Pháp quốc, hường được mặc trong các dịp trịnh trọng như lễ hội hay lễ cưới. Ở đây ý nói may cho chàng trai áo để mặc trong lễ cưới của hai người)
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
Without any seam or needlework,
Áo may không có mối nối và đường kim
(Áo Cambric phải may ghép nối và thêu rất cầu kỳ, không thể may áo Cambric mà không có mối nối đuờng thêu, tức là việc không thể làm được)

Then she shall be a true love of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì nàng sẽ được mãi mãi ở bên tôi.
(Có nghĩa là nàng sẽ không bao giờ được gặp chàng nữa)

3/ Tell her to wash it in yonder well,
Nhắn nàng giặt áo đó ở giếng xa,

Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)

Where never sprung water or rain ever fell,

Nơi không có nước nguồn hay mưa rơi,
(Giếng lúc nào cũng có nước từ mạch nước ngầm, và giếng ở giữa trời thì mưa sẽ rơi vào, có nghĩa là không bao giờ có loại giếng như chàng trai mô tả trên đời)

And she shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì nàng sẽ được mãi mãi ở bên tôi.
(Có nghĩa là nàng sẽ không bao giờ được gặp chàng nữa)

4/ Tell her to dry it on yonder thorn,
Nhắn nàng phơi áo ở khóm gai xa,
(Không ai đi phơi áo ở bụi gai, nhất là áo Cambric, vì gai sẽ làm rách áo)

Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)

Which never bore blossom since Adam was born,
Những khóm gai mãi đơm hoa từ thuở Adam có hình hài
(Không hề có loại cây gai mà lại nở hoa trên đời)

Then she shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì nàng sẽ được mãi mãi ở bên tôi.
(Có nghĩa là nàng sẽ không bao giờ được gặp chàng nữa)

5/ Now he has asked me questions three,
Chàng đã muốn em làm ba việc (trước khi gặp chàng),

Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)

I hope he’ll answer as many for me,
Em mong chàng cũng sẽ làm ngần ấy việc,

Before he shall be a true lover of mine.
Trước khi chàng được ở bên em mãi mãi.

6/ Tell him to buy me an acre of land,
Nhắn chàng mua cho em một mảnh đất hoang
(“An acre of land” có nghĩa là một miếng đất để trồng trọt hay canh tác)

Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)

Between the salt water and the sea sand,
Ngay tại bờ biển,
(Không thể trồng trọt canh tác với cát và muối biển)

Then he shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì chàng sẽ được ở bên em mãi mãi.

7/ Tell him to plough it with a ram’s horn,
Nhắn chàng bừa miếng đất với sừng cừu,
(Sừng cừu đực cong xoắn lại không thể bừa đất đuợc)

Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
And sow it all over with one pepper corn,
Và gieo hạt toàn bộ miếng đất bằng một hạt tiêu,
(Việc không thể làm được)
And he shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì chàng sẽ được ở bên em mãi mãi.
8/ Tell him to sheer’t with a sickle of leather,
Nhắn chàng gọt mỏng hạt tiêu bằng liềm da
(Không hề có liềm hái làm bằng da, và hạt tiêu nhỏ quá không thể gọt mỏng được)
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
And bind it up with a peacock’s feather,
Và buộc hạt tiêu lại bằng lông công,
(Lông công cứng và thẳng, không thể dùng làm dây buộc, và hạt tiêu thì quá nhỏ)
And he shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì chàng sẽ được ở bên em mãi mãi.
9/ Tell him to thrash it on yonder wall,
Nhắn chàng đập cây tiêu trên bờ tường xa,
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
And never let one corn of it fall,
Và không bao giờ để một hạt tiêu rơi xuống đất,
(Hạt tiêu sẽ rớt vương vải xuống đất – Việc không thể làm được)
Then he shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì chàng sẽ được ở bên em mãi mãi.
10/ When he has done and finished his work,
Khi chàng đã làm xong những việc em muốn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
Oh, tell him to come and he’ll have his shirt,
Nhắn chàng hãy đến lấy chiếc áo cưới Cambric,
(Chàng không thể đến được nữa)
And he shall be a true lover of mine.
(Nếu làm được như vậy) thì chàng sẽ được ở bên em mãi mãi.
  Bài ca từ “Scarborough Fair/Canticle” (Lễ hội Scarborough Fair/ Bài Kinh Nguyện):
(Đoạn 1, 3, 5 và 7 là “Scarborough Fair”, đoạn 2, 4, 6 là “Canticle”)

1/ Are you going to Scarborough Fair?
Bạn ơi, cậu có đi dự lễ hội Scarborough không?
(Hết chinh chiến rồi, bạn được về cố hương, còn tôi ở lại)

Parsley, sage, rosemary, and thyme
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
Remember me to the one who lives there,
Gợi nhớ với cô nàng, người ở cố hương về kẻ ở lại (là tôi)
(Đây là lời trố trăn của chàng trai trước khi nhắm mắt)For once she was a true love of mine.
Nàng là người yêu của tôi thuở trước
(Là người yêu của tôi thuở trước, bây giờ thì hết rồi)2/ On the side of the hill in the deep forest green
Bên sườn đồi nhuốm màu xanh đậm của rừng thẳm
(Cây cỏ hoà màu với khói đen của súng và đại bác biến thành màu xanh thẳm, khói bốc lên ngùn ngụt làm tối trời, chúng ta thường nghe “đánh nhau tối tăm trời đất” cũng đồng nghĩa như vậy.)

Tracing of sparrow on snow-crested brown.

Dấu binh lửa của chinh nhân trên mặt tuyết.
(Sparrow còn có nghĩa là một đàn chim, trong câu này có nghĩa là đoàn quân.  Nhiều cánh quân xung trận dẫm nát mặt đất phủ tuyết. Ý nói chiến tranh phá tan nền hoà bình giữa các xứ.)

Blankets and bedclothes the child of the mountain.

Chăn mền ôm ấp ngọn đồi non.
(Ngụ ý nói lính chết trên trận địa nằm sát nhau, lớp này chồng lên lớp kia từ xa nhìn giống như những tấm mền và khăn trải chồng chất trên nhau, giống như đắp chăn cho ngọn đồi).
Sleeps unaware of the clarion call.
Hy sinh trong tiếng lệnh tử thần.
(Mạng người chấm dứt nhưng trận chiến vẫn tiếp diễn, lớp trước ngã gục lớp sau vẫn tràn tới theo tiếng kèn thúc quân)
3/ Tell her to make me a cambric shirt.
Nhắn nàng hãy may cho tôi áo cưới Cambric.
(Cambric là áo kết đăng ten và thêu thùa cầu kỳ có gốc từ xứ Cambrai, Pháp quốc, thường được mặc trong các dịp trịnh trọng như lễ cưới, ý nói may cho chàng trai áo để mặc trong lễ cưới của hai người)

Parsley, sage, rosemary, and thyme
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
Without any seam or needlework
Áo may không có mối nối hay đường kim
(Áo Cambric may ghép nối và thêu rất cầu kỳ, cho nên không thể may áo Cambric được)
Then she shall be a true love of mine
(Nếu làm được) thì nàng sẽ được mãi mãi ở bên tôi
(Có nghĩa là nàng sẽ không bao giờ được gặp chàng nữa)
4/ On the side of a hill a sprinkling of leaves.
Bên sườn đồi lá tan tác rơi.
(Bên sườn đồi thân người nối tiếp nhau gục ngã)
Washes the grave with silvery tears.
Lệ bạch kim cuốn trôi mộ địa.
(Nước mắt phản chiếu ánh sáng của giáp sắt và vũ khí cho nên lấp lánh ánh bạc, ý nói khóc bạn ngay giữa trận tiền. Câu này ví von: quá nhiều nước mắt có thể cuốn trôi mộ điạ của đồng đội. “Grave” là mộ phần, nhưng ý câu này phải là “mộ địa” vì chôn nhiều xác quá, mà đây cũng không phải là nghĩa địa cho nên “grave” trong câu này nên hiểu là mộ địa chôn tạm, lấp bằng tay giống như “lấp đất hố tôi, lấp với đôi tay cô nàng” trong “Giàn thiên lý đã xa” của Phạm Duy)
A soldier cleans and polishes a gun.
Người lính lau chùi và đánh bóng khẩu súng.
(Bắn nhiều quá thì nòng súng bị ám khói dễ bị kẹt đạn, khẩu súng bị hoen dơ do thuốc súng và máu cho nên phải lau chùi đánh bóng khẩu súng để tiếp tục chiến đấu)
Sleeps unaware of the clarion call.
Hy sinh trong tiếng lệnh tử thần.
(Mạng người chấm dứt nhưng trận chiến vẫn tiếp diễn, lớp trước ngã gục lớp sau vẫn tràn tới theo tiếng kèn thúc quân)
5/ Tell her to find me an acre of land,
Nhắn nàng tìm một miếng đất hoang cho gã si tình (“Giàn thiên lý đã xa”, Phạm Duy)
(“An acre of land” có nghĩa là một miếng đất để trồng trọt canh tác)
Parsley, sage, rosemary, and thyme.
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
Between the salt water and the sea strand,
Nằm ngay bờ đại dương
(Làm gì có miếng đất trồng trọt canh tác ngay bãi biển?)
Then she’ll be a true love of mine.
(Nếu làm được) thì nàng sẽ được mãi mãi ở bên tôi.
(Có nghĩa là nàng sẽ không bao giờ được gặp chàng nữa)
6/ War bellows blazing in scarlet battalions.
Âm thanh của trận hỗn chiến giữa những tiểu đoàn đỏ.
Ý câu này là: “các tiếng súng, tiếng kèn, tiếng la hét, tiếng rên siết … âm vang từ những đám quân be bét máu”.
(Scarlet ở đây ám chỉ màu đỏ của máu, Battalions là những tiểu đoàn, nhưng chữ “tiểu đoàn” gợi lên hình ảnh đoàn quân chỉnh tề, mà ở đây cảnh giao tranh hỗn độn diễn ra không còn hàng ngũ gì nữa, chữ “đám quân” mới diễn tả đúng cảnh tượng lúc đó, vậy thì scarlet battalions nên hiểu là “những đám quân be bét máu”)
Generals order theirs soldiers to kill.
Các tướng lãnh hiệu lệnh cho quân sĩ giết giặc.
(Các vua chúa giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực, lính chỉ biết nhận lịnh)
And to fight for a cause they’ve long ago forgotten.
Và chiến đấu cho một nguyên nhân mà không ai còn nhớ nữa.
(Chinh chiến triền miên kéo dài qua nhiều thế hệ.  Đám lính trẻ chỉ biết đánh mà không biết nguyên nhân từ đâu)
7/ Tell her to reap it (heather) with a sickle of leather,
Hãy nhắn nàng cắt (cỏ thạch thảo) bằng chiếc liềm da,
(Liềm bằng da không thể cắt được cỏ thạch thảo vì cỏ có thân cứng và không hề có liềm làm bằng da trên đời)
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
Mùi tây, xô, hồng hương và húng tây,
(Các hương thảo, linh hồn của tình yêu lứa đôi)
And gather it all in a bunch of heather,
Bó lại thành một bó thạch thảo (tức là hồng phương bách, họ đỗ quyên, không phải là cúc cánh mối mà người Việt thường gọi là thạch thảo)
(Hoa thạch thảo hồng hay tím nở vào mùa xuân, ý nghĩa của mùa xuân là mùa thanh bình nhưng riêng hoa thì lại có ý nghĩa cô đơn và vĩnh biệt.  Ý của Paul Simon trong câu này là: hoà bình đến, nhưng người yêu của nàng mãi mãi không trở về nữa)
Then she’ll be a true love of mine.
(Nếu làm được) thì nàng sẽ được mãi mãi ở bên tôi.
(Có nghĩa là nàng sẽ không bao giờ được gặp chàng nữa)
Ở cổ ca “Scarborough Fair”, các vần thơ nhẹ nhàng và những hình ảnh mộc mạc đơn sơ của cuộc sống dân dã thời trung cổ, cùng với giai điệu du dương đặc biệt của loại nhạc Celtic đã được rất nhiều nguời trên thế giới yêu thích và dùng làm lullaby (bài hát ru trẻ con) và bài hát này một lần nữa lại được bình chọn là một trong những bài lullabies hay nhất thế giới.
Với bài ca từ “Scarborough Fair/Canticle”, cũng là những vần thơ nhẹ nhàng, nhưng lần này có sự kết hợp của những “câu kinh nguyện” ngắn ngủi, hàm chưa nhiều ẩn ý làm rung động lòng người nghe, khiến cho toàn bài ca từ mang đậm nét bi tráng của một thiên anh hùng ca thời đại, mà bối cảnh (của bài ca từ) vẫn là những cuộc chiến tranh đẫm máu triền miên thời Trung Cổ.
Trên đây chỉ là một sự lược dịch cũng như nhiều cách dịch khác (trong sách vở và trên mạng) mà do cách hành văn của tiếng Anh cổ, các câu thơ ví von tối nghĩa đồng thời vốn ngôn ngữ Anh -Việt hạn hẹp của người viết đã tạo ra sự khác biệt về cách dịch, độc giả nên nghiên cứu các bài dịch khác ngõ hầu tìm ra một cách dịch thích hợp và đúng đắn với mình nhất.

 

Leave a comment »

Thưởng thức ‘Auld Lang Syne’, ca khúc không thể thiếu ở Quảng trường Thời Đại đêm Giao thừa

Vào Tết Dương lịch, một thứ không thể thiếu ở Quảng trường Thời Đại mỗi khi chuông đồng hồ điểm 12 giờ đêm báo hiệu năm mới chính là bài hát Auld Lang Syne.  Auld Lang Syne (Những ngày đã qua) là một ca khúc đẹp tình bè bạn và nhắc nhở chúng ta rằng đừng quên những kỷ niệm cũng bè bạn đã từng đi qua đời ta.

1-moonlight-11-1

Đó là lời tiễn biệt năm cũ với bao điều nhớ mong dang dở và lời chào đón năm mới với bao kỳ vọng trông chờ. Những cảm xúc bồi hồi và hân hoan đan xen đã khiến Auld Lang Syne trở thành ca khúc bất tử của đêm Giao thừa:

Should old acquaintance be forgot,
and never brought to mind ?
Should old acquaintance be forgot,
and auld lang syne ?

(Lẽ nào lại quên đi những người bạn cũ năm xưa
Và không bao giờ nhớ gì nữa?
Lẽ nào quên đi những người bạn xưa ấy
Và những ngày xưa êm đềm?)

Bài hát cổ Auld Lang Syne có lịch sử hơn 200 năm do Robert Burns viết vào năm 1788. Và bối cảnh sáng tác cũng thật ly kỳ, Robert Burns từng tiết lộ: “Bản nhạc này là một bản nhạc cổ xưa, chưa bao giờ được in ra, chưa bao giờ được viết xuống, cho đến khi tôi chép lại từ một ông cụ vô danh.”

Vào năm 1929, Auld Lang Syne được nhạc trưởng Guy Lombardo chọn biểu diễn trong đêm giao thừa tại thành phố New York, đưa bản nhạc này nổi danh đến đỉnh cao.

Suốt từ đó đến nay, mỗi khi đến thời điểm một năm cũ qua, một năm mới đến, hàng nghìn người lại đổ dồn về Quảng trường Thời Đại để cất vang lời ca của Auld Lang Syne.

Christmas-2619680b4uavj1cph-1_orig

Auld lang syne

Should old acquaintance be forgot,
and never brought to mind ?
Should old acquaintance be forgot,
and auld lang syne ?

For auld lang syne, my dear,
for auld lang syne,
we’ll take a cup of kindness yet,
for auld lang syne.

And surely you’ll buy your pint cup !
and surely I’ll buy mine !
And we’ll take a cup o’ kindness yet,
for auld lang syne.

We two have run about the slopes,
and picked the daisies fine;
But we’ve wandered many a weary foot,
since auld lang syne.

We two have paddled in the stream,
from morning sun till dine;
But seas between us broad have roared
since auld lang syne.

And there’s a hand my trusty friend !
And give us a hand o’ thine !
And we’ll take a right good-will draught,
for auld lang syne.

Tạm dịch:

Những ngày đã qua

Lẽ nào lại quên đi những người bạn cũ năm xưa
Và không bao giờ nhớ gì nữa?
Lẽ nào quên đi những người bạn xưa ấy
Và những ngày xưa êm đềm?

Cho những ngày xa xưa, bạn ơi
Cho những ngày xa xưa ấy
Chúng ta cùng nâng ly vì những điều tốt lành
Cho những ngày đã qua

Và chắc chắn khoảnh khắc này bạn đang nâng ly
Và chắc chắn tôi cũng vậy!
Và chúng ta sẽ nâng ly ân cần,
Cho những ngày đã qua

Hai ta cùng nhau trèo lên dốc
Và hái những đóa hoa cúc dại
Chúng ta đã từng cùng nhau thơ thẩn đến chân mỏi rã rời
Từ những ngày đã qua

Hai ta cùng lội nước trên dòng suối
Từ sáng sớm cho đến bữa cơm
Nhưng biển rộng giữa chúng ta đã gào thét
Từ những ngày đã qua

Đã có một tay rồi đây người bạn tin cậy!
Và hãy giúp chúng tôi một tay của bạn
Và chúng ta cùng nâng ly vì những điều tốt lành
Cho những ngày đã qua.

Comments (2) »

Cùng nghe lại ‘Jingle bells’, ca khúc bất hủ cho mùa Giáng sinh

Có một ca khúc đã đi vào huyền thoại của mùa Noel, bài hát có tựa đề “Jingle Bells”. Ca khúc này luôn được bật lên vào mỗi dịp Giáng sinh về. Làm vạn vật của muôn nơi đang ngủ vùi trong ngày đông giá lạnh như được bừng tỉnh bởi tiếng chuông của giáo đường.

Ca khúc “Jingle Bells” được viết bởi James Lord Pierpont vào mùa thu năm 1857 và xuất bản dưới nhan đề “One Horse Open Sleigh”. Sau đó, ca khúc này được dịch ra nhiều thứ tiếng và được biết đến trên toàn thế giới với cái tên chính thức là “Jingle Bells”.

Giai điệu sôi nổi với lời ca ý nghĩa của bài hát đã trở thành bất tử và là một phần không thể thiếu của Giáng sinh. Ở Việt Nam, người yêu nhạc qua nhiều thế hệ vẫn yêu thích phiên bản của nhóm Boney M nhất.

Giáng sinh là mùa của tình yêu thương được lan tỏa, nơi nơi được sưởi ấm bằng những lời nguyện cầu thấm đẫm tình người

Mùa đông lạnh giá, khi vạn vật đi tìm nơi nương náu yên bình, cái rét đã làm khung cảnh trở nên lạnh lẽo tới điêu tàn. Chẳng có bóng dáng nào của sự sống, khi nơi nơi là một màu trắng của tuyết lạnh.

Bỗng tiếng chuông nhà thờ ngân vang, làm vạn vật bừng tỉnh trong giấc ngủ vùi, hân hoan chào đón một màu xanh tươi của sự sống, vui tươi trong sắc màu của cây thông Noel, với những ánh nến thơ mộng và cái ôm ấm áp giữa người với người.

Lời bài hát tiếng Việt:

Mừng ngày giáng sinh an lành
Một dòng tiếng ca tưng bừng
Rồi đến đây sum vầy
Tiếng chúc vang mọi nơi
Từng hạt tuyết rơi bên thềm
Người người đến đây vui cười
Đầy ấp bao điều ước cho ta ôm ấp trái tim yêu đời…

Ngày đất trời như hoan ca trong đêm giáng sinh chào đón Chúa ra đời, một ánh sáng của tình yêu thương và sự may mắn đã sưởi ấm tâm hồn của con người. Chúa giáng sinh làm cho con người như quên đi mọi đau khổ, cơ cực của cuộc đời. Ánh sáng của Chúa làm vạn vật hồi sinh, con người gần nhau hơn, trái tim được sưởi ấm.

111111111-19-e1545014709426
Giáng sinh làm cho con người như quên đi mọi đau khổ, cơ cực của cuộc đời. 

Lãng quên đi những thất bại hay những nỗi buồn của một năm, người người cười vui đón chào mùa Giáng sinh và một năm mới

Một năm đã đi qua, có những thành công, có những thất bại, có những niềm vui và có cả những giọt nước mắt. Ta đều nên lãng quên nó để hòa nhịp với khoảnh khắc đất trời chuyển mình chào đón Giáng sinh.

Quay trở về bên người thân, điểm tựa của mỗi người sau tất cả những thăng trầm của cuộc sống.

Ngồi bên nhau để ôn lại những gì đã làm được và chưa làm được, ngồi bên nhau để kể về những gì tươi đẹp nhất của cuộc đời, cây thông Noel rực rỡ sắc màu, ánh sáng của ngọn nến làm ấm cả khoảng trời rộng lớn.

Ly rượu vang cùng tiếng cười rộn rã, làm cái giá lạnh kia như chẳng còn chút vị. Họ cùng ước nguyện những điều tốt lành, không phải chỉ cho riêng họ, mà điều ước cho cả những mảnh đời khắc khổ, đem tia ấm của tình yêu thương dành cho những người khác. Cầu nguyện cho thế giới được hòa bình, để không còn tang thương, chia lìa mất mát.

Ly rượu vang cùng tiếng cười rộn rã, làm cái giá lạnh kia như chẳng còn chút vị. 

Mừng ngày Chúa sinh ra đời,
nào cùng nắm tay tươi cười
Hòa bình đến cho muôn người,
cùng cất tiếng ca mừng vui
Mừng ngày Giáng sinh an hòa,
Mừng hạnh phúc cho muôn nhà
Từ thành phố hay đồng quê muôn nơi
Vui tiếng hát ca vang lừng…

Tiếng chuông cất lên, bản nhạc được mở trong một không khí ấm áp, ngày mà con người dẫu ở đâu trên mọi miền của địa cầu, dẫu là người giàu hay người nghèo, từ thành thị tới nông thôn, họ đều trở về quây quần bên gia đình của mình, ngồi bên nhau lắng nghe những ca khúc đón Giáng sinh, chào mừng năm mới.

Đêm Noel, đêm Noel
Ta hãy cùng vui lên!
Đêm Noel, đêm đêm ta xin
Ơn trên ban hòa bình cho trần thế
Đêm Noel, chuông vang lên,

Chuông giáo đường vang lên
Đêm Noel, vui đêm Noel,
Ta hãy chúc nhau an lành …

Đêm Noel, chuông vang lên 

Vứt bỏ hết thảy rào cản, khoảng cách, con người như xích lại gần nhau

Giáng sinh tới, năm mới đến rồi, âm thanh tiếng chuông như gõ cánh cửa. Mọi người gửi tới nhau hàng ngàn lời chúc an lành, những thông điệp yêu thương lan tỏa khắp không gian.

Thời điểm đất trời và con người như không còn khoảng cách vô hình nào, những tiếng cười phá tan sự u ám, những em bé rúc rích cười trong tuyết, những đôi trai gái dập dìu bên ánh đèn, những ông cụ bà cụ nắm lấy tay nhau bên ánh lửa hồng, những con người vô gia cư ngoài đường phố với nụ cười làm xua tan đi tuyết lạnh.

Tất cả dệt lên một bức tranh nhiều màu sắc của cuộc đời, nhưng phía sau đó là sự ấm cúng khi yêu thương lan tỏa.

Lắng nghe âm thanh của bản nhạc Jingle bells ngân vang, giai điệu vui tươi, sôi nổi với những ca từ đẹp đẽ, như mang hơi thở của tình yêu giữa con người với con người. Đất trời bừng sáng với sự chuyển mình qua những tháng ngày nằm im lìm trong băng tuyết. Cùng với vạn vật chào đón Giáng sinh, đón chào giây phút chuyển giao của một năm mới.

Vứt bỏ hết thảy rào cản, khoảng cách, con người như xích lại gần nhau.

Mùa Giáng sinh này, bạn đã có mong ước hay nguyện ước gì? Đại Kỷ Nguyên xin gửi tới mọi độc giả thuộc mọi miền của thế giới, một lời chúc Giáng sinh an lành, một năm mới với niềm hạnh phúc và thành công mới.

Jingle Bells

Dashing through the snow
In a one horse open sleigh
O’er the fields we go
Laughing all the way
Bells on bob tails ring
Making spirits bright
What fun it is to laugh and sing
A sleighing song tonight

Oh, jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh
Jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh

A day or two ago
I thought I’d take a ride
And soon Miss Fanny Bright
Was seated by my side
The horse was lean and lank
Misfortune seemed his lot
We got into a drifted bank
And then we got upsot

Oh, jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh
Jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh yeah

Jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh
Jingle bells, jingle bells
Jingle all the way
Oh, what fun it is to ride
In a one horse open sleigh

Băng qua tuyết trắng
Trên chiếc xe ngựa kéo
Chúng ta qua những cánh đồng
Cười vui suốt dọc đường
Rung chiếc chuông quả lắc
Mang ánh nắng mùa xuân về
Thật vui khi cười và hát
Trên chiếc xe kéo này ta sẽ hát suốt đêm nay
 .

Ôi tiếng chuông , tiếng chuông giáng sinh
Ngân vang khắp mọi nẻo đường
Ôi , vui sao khi ta đi
Trên chiếc xe ngựa kéo
Tiềng chuông, tiếng chuông giáng sinh
Ngân vang khắp mọi nẻo đường
Ôi , vui sao khi ta đi
Trên chiếc xe ngựa kéo
 một hay hai ngày trước
Tôi nghĩ tôi đã mang nó đến
Cho cô Fanny Bright
Mà ngồi cạnh tôi
Con ngựa gầy và gầy
Cô ấy có vẻ có nhiều vận rủi
Chúng tôi vào trong một ngân hàng
Và chúng tôi có….
 

Ôi tiềng chuông, tiếng chuông giáng sinh
Ngân vang khắp mọi nẻo đường
Ôi, vui sao khi ta đi
Trên chiếc xe ngựa kéo
Tiềng chuông, tiếng chuông giáng sinh
Ngân vang khắp mọi nẻo đường
Ôi, vui sao khi ta đi
Trên chiếc xe ngựa kéo yeah

Tiềng chuông, tiếng chuông giáng sinh
Ngân vang khắp mọi nẻo đường
Ôi, vui sao khi ta đi
Trên chiếc xe ngựa kéo
Tiềng chuông, tiếng chuông giáng sinh
Ngân vang khắp mọi nẻo đường
Ôi , vui sao khi ta đi
Trên chiếc xe ngựa kéo

 

Comments (2) »

Nghe lại bản gốc tuyệt đẹp: Đêm Thánh vô cùng – Silent Night

Mỗi lần đến lễ Giáng sinh, khắp thế giới đều rơi nước mắt thưởng thức ca khúc êm đềm bất hủ đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của toàn nhân loại, đó là ca khúc “Silent night” (Đêm Yên tĩnh), mà nhạc sĩ Hùng Lân đã phổ lời và đặt tên “Đêm Thánh vô cùng”.

Ca khúc nguyên gốc bằng tiếng Đức là “Still nacht” với phần lời gốc do Linh mục người Áo Josef Mohr viết bằng tiếng Đức và phần giai điệu do nghệ sĩ đàn Organ là Franz Xaver Grubersáng tác năm 1818.

Một linh mục, một nhà thơ nghiệp dư làm nên một tác phẩm bất hủ

Linh mục Josef Mohr là một nhà thơ nghiệp dư, đã sáng tác lời “Stille Nacht” từ năm 1816. Nhưng mãi đến mùa Lễ Vọng Giáng sinh năm 1818, Linh mục Josef Mohr mới tìm được một nhạc sĩ sáng tác để nhờ viết âm điệu cho những dòng thơ của bài “Stille Nacht” để sẽ trình diễn trong thánh đường vào đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng 12 năm 1818.

Theo truyền thống của các thánh đường Công giáo vào thời Trung cổ thì trong các buổi thánh lễ ở nhà thờ chỉ được sử dụng đàn Phong cầm (Harmonium) cho các ca đoàn khi hát thánh ca mà thôi. Nhưng điều đáng tiếc là cây đàn Phong cầm duy nhất của nhà thờ Thánh Nicola-Kirche ở Obendorf thuộc nước Áo do Linh mục Josef Mohr làm cha xứ đã bị hỏng vào phút chót nên Linh mục Josef Mohr phải đề nghị Nhạc sĩ Franz Xaver Gruber soạn phần giai điệu cho đàn Tây ban cầm Guitar.

Nhà nguyện Silent-Night tại Oberndorf

Ca khúc “Stille Nacht” với lời bằng tiếng Đức và nhạc hoàn chỉnh vào ngày 24 tháng 12 năm 1818 để trình diễn lần đầu trong thánh lễ mừng Chúa Giáng Sinh khuya 24 rạng sáng ngày 25-12-1818 tại nhà thờ Thánh Nicola-Kirche vùng Obendorf của nước Áo.

Điều đặc biệt với cây đàn guitar lần đầu tiên được đệm cho một bài Thánh ca

Người ca sĩ duy nhất hát bài “Stille Nacht” lần đầu trong buổi thánh lễ mừng Chúa Giáng Sinh khuya 24 rạng sáng ngày 25-12-1818 tại nhà thờ Nicola-Kirche chính là Linh mục Josef Mohr; với tiếng đệm đàn Guitar hòa tấu êm nhẹ trầm ấm của chính Linh mục Josef Mohr và cây đàn Guitar của nhạc sĩ Organ người Áo là Franz Xaver Gruber cùng với ca đoàn nhà thờ hát phụ họa.

Lúc đầu, người dự lễ tỏ ra kinh ngạc khi nghe ca khúc được trình bày với đàn Guitar, nhưng âm thanh và lời ca như một giòng điện truyền sâu trong tim óc của từng người nghe. Cả cộng đoàn giáo dân im lặng thưởng thức và khi bài ca với phần đệm đàn Guitars của hai đồng tác giả vừa chấm dứt, cả nhà thờ đứng dậy với tiếng vỗ tay kéo dài như vô tận.

Chẳng bao lâu mọi người bị mê hoặc bởi giai điệu ngọt ngào của bài hát này.

Các giáo dân truyền miệng nhau say sưa nói về bài hát tuyệt vời “Stille Nacht” của đêm Giáng Sinh; Tòa Giám mục hay biết và các giáo đường, các họ đạo sao chép rồi chẳng mấy chốc bài thánh ca “Stille Nacht” đã lan ra khắp nước Áo, vượt biên giới đến nước Đức và rồi tràn ngập khắp Châu Âu.

Tranh cổ vẽ 2 tác giả của bài hát Stille Nacht (Silent Night) tại nhà bảo tàng: Lm Josef Mohr (trái) và Franz S. Gruber

Ca khúc giữ kỷ lục về bản dịch ra các ngôn ngữ

Năm 1859, Đức Giám mục Giáo phận Florida, Hoa Kỳ là John Freeman Young đã cho ra đời bản dịch tiếng Anh của thánh ca “Stille Nacht”, và nó trở thành bản được nhiều người biết đến nhất hiện nay.

Khoảng 100 năm sau, vào thời Chiến tranh thế giới lần thứ 1 1914-1918, bản thánh ca “Stille Nacht” và bản tiếng Anh là “Silent Night” đã được dịch

Ca khúc đình chiến đêm Giáng sinh trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Ca khúc này cũng từng được hát cùng một lúc bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức trong ngày đình chiến đêm Giáng sinh năm 1914 trong Chiến tranh Thế giới lần thứ I, vì đây là một thánh ca mà các binh sĩ của cả hai bên trong cuộc Thế chiến đều biết và ưa thích.

Cuối Chiến tranh thế giới lần thứ II, bài thánh ca “Stille Nacht” (Silent Night) được dịch ra 60 thứ tiếng khác nhau. Và đến nay, mặc dù toàn thế giới chỉ có 196 Quốc gia (kể cả Đài Loan); nhưng bài thánh ca “Stille Nacht” (Silent Night) đã được dịch ra trên 280 loại ngôn ngữ khác nhau, trong đó có dịch ra tiếng Việt Nam do cố Nhạc sĩ Hùng Lân chuyển ngữ dưới tựa đề “Đêm Thánh vô cùng”.

Cảnh trong Phim “Stille Nacht”: Lm Josef Mohr (do tài tử Carsten Clemens), Maria (Janina Elkin) và Anton (Manuel Mairhofer) diễn tả khi Lm tập cho những người trong ca đoàn nhà thờ hát bài thánh ca Stille Nacht

Bảo tàng tưởng nhớ sự ra đời của ca khúc Silent Night

Từ đầu thập niên 1900, Nhà thờ Thánh Nicôla bị lũ lụt tàn phá, thị trấn được dời lên một nơi an toàn hơn ở thượng nguồn dòng sông, một ngôi nhà thờ mới được xây dựng bên cạnh một chiếc cầu. Một nhà nguyện nhỏ gọi là Stille-Nacht-Gedächtniskapelle (Nhà nguyện Tưởng nhớ Ca khúc Đêm Yên Lặng) được dựng lên ngay tại địa điểm của ngôi nhà thờ cũ bị phá hủy, và ngôi nhà kế cận được biến thành nhà bảo tàng, quanh năm thu hút du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, nhưng đông nhất vẫn là trong tháng 12.

Bản viết tay của ca khúc được tìm thấy

Mặc dù bản gốc của ca khúc đã bị thất lạc, một bản viết tay của Linh mục Josef Mohr đã được tìm thấy vào năm 1995, các nhà nghiên cứu xác định nó thuộc vào khoảng năm 1820.

Điều này cho thấy linh mục Josef Mohr đã viết lời bài hát vào năm 1816 khi ông được phân công đến phụ trách một nhà thờ hành hương ở Mariapfarr (Áo). Phần nhạc được sáng tác bởi Nhạc sĩ Franz Xaver Gruber vào năm 1818 tức 2 năm sau khi phần lời của “Stille Nacht” đã được Linh mục Josef Mohr sáng tác. Đây là bản cổ nhất, cũng là bản viết tay duy nhất của Linh mục Josef Mohr. Giai điệu được sáng tác bởi Nhạc sĩ Franz Xaver Gruber chịu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống tại các vùng nông thôn, phảng phất những nét đặc trưng của dân ca Áo.

Bài hát cổ được tìm thấy của Lm Josef Mohr năm 1995

Nói chung các phiên bản hiện nay có giai điệu được sử dụng thường là chậm, theo lối hát ru, có một chút khác biệt so với bản nguyên gốc của Nhạc sĩ Franz Xaver Gruber (đặc biệt là ở các dòng cuối cùng) có tiết tấu linh hoạt, gần như nhạc khiêu vũ.

Ngày nay, lời và giai điệu ca khúc đã được đưa vào phạm vi “Sở hữu công cộng” của điều luật về tác quyền.

Ca khúc vẫn thường được trình diễn không cần nhạc đệm theo lối “a cappella”. Mặc dù được sáng tác bởi hai tín hữu Công giáo, bài hát này cũng có một vị trí đặc biệt trong các nhà thờ thuộc Giáo hội Luther.

Silent Night
( Đêm Thánh Vô Cùng )
Silent night, Holy night
All is calm, all is bright
‘Round yon virgin Mother and Child
Holy infant so tender and mild
Sleep in heavenly peace
Sleep in heavenly peace
Silent night, holy night
Shepherds quake at the sight
Glories stream from Heaven afar
Heav’nly hosts sing Alleluia
Christ the Saviour is born
Christ the Saviour is born
Silent night, holy night
Son of God , love’s pure light
Radiant beams from Thy holy face
With the dawn of redeeming grace
Jesus , Lord at Thy birth
Jesus , Lord at Thy birth
Dịch ý

Đêm yên lặng

Đêm yên lặng! Đêm thánh này!
Vắng vẻ thay! Sáng láng thay!
Chung quanh chốn Ma-ri đang ngắm con mình ,
Con trai thánh rất tươi vui, rất an bình ,
Đương ngơi dưới khung trời vắng ,
Êm đềm giữa đêm yên lặng.
Đêm yên lặng! Đêm thánh này !
Bỗng kẻ chăn hoảng hốt thay,
Vinh quang thánh ở nơi thiên quốc soi lòa ,
Muôn thiên sứ hát vang: A-lê-lu-gia!
Cứu Chúa giáng lâm trần thế !
Y kỳ Thánh Vương nghi vệ
Đêm yên lặng! Đêm thánh này !
Đức Chúa Con yêu thương đầy,
Dung quang Chúa chiếu ra ân điển thiên đàng,
Như tia thái dương khi tưng sáng huy hoàng, Giê-xu giáng lâm trần thế !
Y kỳ Thánh Vương nghi vệ !

***
Có một thời tôi thường nhầm ca khúc Silent night ( Đêm thánh vô cùng ) với bài hát Bài thánh ca buồn  cũng do ca sĩ Elvis  Phương hát

Leave a comment »

Once Upon A December (Ngày xưa vào tháng 12 …)

Một ngày tháng chín tôi viết thư gửi chương trình sóng điện ảnh chọc ghẹo vui vui hai MC của chương trình là TQ và KT , cũng trong lá thư ấy tôi có yêu cầu ca khúc Unchained Melody trong bộ phim Hồn Ma ( The Ghost ) cho người bạn tháng chín.

Chắc có lẽ họ buồn cười lắm vì không biết người bạn tháng chín của tôi như thế nào , tôi vẫn xem tháng chín , không chỉ tháng chín mà các tháng trong năm như những người bạn,cứ cho là vậy đi thì sao nào. Câu chuyện cổ tích về mười hai vị thần tháng tôi vẫn đọc đó , tôi mê  truyện cổ tích nên thật dễ hiểu khi những thứ vô tri được nhân cách hóa. Môt ngày bất chợt lại thấy có ai đó cũng ngô nghê như chính mình – Một người bạn tháng mười hai.

18-mira

Once Upon A December – Aliyah

Once Upon A December

Dancing bears, painted wings

Things I almost remember

And a song someone sings

Once upon a December

Someone holds me safe and warm

Horses prance through a silver storm

Figures dancing gracefully

Across my memory

Far away, long ago

Glowing dim as an ember

Things my heart Used to know

Once upon a December

Someone holds me safe and warm

Horses prance through a silver storm

Figures dancing gracefully

Across my memory

Far away, long ago

Glowing dim an as ember

Things my heart Used to know

Things it yearns to remember

And a song Someone sings

Once upon a December

Fgd

Ngày xưa vào tháng 12….

Những con gấu nhảy múa

Những đôi cánh đầy màu sắc

Là những thứ tôi hầu như còn nhớ

Và một bài hát ai đó thường hát

Ngày xưa vào tháng 12….

Vòng tay ai đó thật ấm áp và an toàn

Những con ngựa phi nước đại xuyên qua cơn bão

Những hình ảnh nhảy múa thật duyên dáng

Dần dần hiện lên trong trí nhớ của tôi

Ở rất xa, từ lâu lắm rồi

Ánh sáng mờ ảo như mớ than hồng

Là những thứ tôi thường nhớ tới

Những thứ luôn khao khát được nhớ

Ngày xưa vào tháng 12…

Và một bài hát

Có người thường hay hát

Ngày xưa vào tháng 12….

Leave a comment »